Xóm Tụ An

Ngã ba sông và núi Thiệu

Ngã ba sông và núi Thiệu. Làng xưa nay còn đâu.

Ngày trước, bến xe Long Biên thường ghi các tên làng quanh Hà nội rất thú vị: Nhổn, Trôi, Chèm, Guột, Mẹt. Làng tôi ở Ninh Bình cũng có tên khá lạ.

Những năm 1940 đói kém, dân trong Tổng Trường Yên, do đất chật người đông, một số rủ nhau ra ngoài ven sông Hoàng Long để lập nghiệp.

Xóm chạy dài hai cây số dọc bờ sông nước xanh mát, nhà nọ cách nhà kia vài trăm mét, rất “qui hoạch”. Sức người đã biến ruộng bỏ hoang, lau sậy mọc thành cái làng yên ả ven sông, nên được gọi là Tụ An.

Đi từ Hà Nội về Ninh Bình, qua cầu Gián Khẩu vài chục mét, thấy con đê nhỏ ven sông Hoàng Long, rẽ phải theo đường trải bê tông vài km, gặp âu thuyền sông Chanh là đến tổ chuồn chuồn của Blog HM. Thêm vài km sẽ đến Tổng Trường Yên, có cố đô Hoa Lư, phía bên kia sông là huyện Gia Viễn.

Ông nội tôi có 5 người con, 4 trai và một gái. Bác đầu tên là Kỳ, bác tiếp nữa là Hai, bố tôi là Ba, hai chú tiếp nữa là Bốn và Năm. Cô út có tên là Sáu. Nếu bạn học chửi chỉ cần văng dãy số “2-3-4-5-6” rất vần.

Ngoài tên gọi thường ngày, ai cũng có một tên húy như bác Thành, chú Cảo, chú Dư, cô Tường. Bố tôi có tên đặc biệt. Làm đơn lên “bỉ” ban, ông ghi “Tên tôi là Giang Tử Hàn, tức Ba”. Mấy anh em đọc trộm cưởi tủm tỉm, sao ông Hàn lại tức ông Ba. Tên cúng cơm không bao giờ lộ ra, hàng xóm réo có thể giết nhau.

Sang Lào làm ăn thất bát do chiến tranh với Xiêm, mấy chú bác rủ nhau làm lò gạch ngã ba sông Hoàng Long và sông Chanh. Từ mom sông trũng nhất, đất vụn, xỉ, gạch vỡ được đổ dần nên nơi đây trở thành cao nhất xóm. Mùa lũ cả vùng mênh mông toàn nước. Khi nước vào sân nhà tôi thì cuối xóm có nhà đã ngập mái gianh. Trẻ con không biết bơi dễ chết đuối. Blog HM hai lần suýt đi gặp Hà Bá.

Thời 1942-1943 làng Hối có núi Thiệu bé tý (thuộc huyện Gia Viễn), đầu trộm đuôi cướp chọn làm nơi trú ẩn. Mấy anh em ngủ đêm trong lều bên lò gạch. Nửa đêm, các tướng bơi sang, mỗi “ông” một mã tấu, chặn hai đầu lều và bắt nộp hết tiền bạc, quần áo hay gạo thóc.

Bác Hai (áo vec) và bố HM

Bác Hai (áo vec) và “chú” Ba

Bác Hai tức lắm. Cụ mua một con mã tấu, mài rất sắc, mấy đêm liền không ngủ trong lều mà nằm ngoài bụi tre. Trộm cướp lại quen mui đến lều, giơ dao dọa. Bác tôi lặng lẽ từ phía sau, giơ mã tấu choảng vào vai “cụ” cầm đầu một nhát. Bị bất ngờ, cả bọn chạy mất. “Tướng” bị chém sả bả vai vẫn bơi qua sông, nghe nói bị mất máu nhiều nên đã chết. Từ đó hết cướp.

Làng có tên lạ, nhưng tên người còn lạ hơn như cụ Dởn, cụ Doạt, ông Bơng, ông Cờng, bà Tộp, ông Đạn, chú Noãn, bà Ba gầu…. Bây giờ không ai đặt tên thế nữa. Bố tôi còn có tên là Ba Lắc vì hồi trẻ cụ khỏe quá, sáng không biết làm gì, ra hiên lắc mỗi cái cột ba cái. Thằng cu lớn nhà này đặt tên là Luck (Lắc – nửa Anh nửa Việt) cũng do lấy tên húy của ông nội.

Dân chết đói, chết trôi bị người ta chôn trộm vào nền nhà và lò gạch trước đó mà không biết. Tối đến, các bà, các chị trong xóm ngồi bắt chấy, cho vào mồm cắn, rồi kể chuyện ma mãnh làm bọn trẻ rởn hết cả tóc gáy, không dám ra đi đái mà toàn đứng ở hiên tương xuống sân.

Ở trên bãi tha ma cũng thấy “lạnh” thật. Rất nhiều lần, mọi người trong nhà kể, có người mặc áo trắng, đội nón trắng, dựng đứng giường lên và đuổi ra khỏi nhà. Thỉnh thoảng thấy người chết trôi tóc lờ phờ, trương phềnh, dân chết đuối do đắm đò là thường.

Bụi tre quanh nhà thỉnh thoảng thò ra một cái tiểu, bọn trẻ trâu lôi ra và vứt xuống sông. Khi nhà bị giải tỏa để mở rộng cửa sông Chanh thì máy xúc đã làm lộ ra khoảng 30-40 cái tiểu dưới nền nhà và quanh bụi tre, kể cả nhà xí. Ông Nguyễn Khắc Trường lấy làng Tụ An vào tiểu thuyết “Mảnh đất lắm người nhiều ma” chăng?

Làm nhà trên bãi tha ma nên chả bao giờ ăn nên làm ra, quần quật quanh năm vẫn đói vàng mắt. Mẹ tôi đi xem bói, lão thầy phán phải chuyển nhà, cúng bái mới xong. Mỗi lần lão ấy đến, mồm nhai trầu bỏm bẻm, uống rượu mặt đỏ gay rồi chỉ trỏ, nếu ở tiếp thì phải chuyển hướng nhà, phía bờ ao có Tầu yểm bùa nên tháng sau phải cúng mới hết hạn.

Lần cúng sau nghĩa là một con gà luộc, đĩa xôi, chai rượu dù nhà rất nghèo. Cúng giữa sân rồi sau đó mẹ tôi chặt ra cho chính lão ấy chén. Bọn trẻ đói khát chỉ biết “trông mồm”. Hy vọng được cái chận gà gặm thì lão ấy đòi mang về nhờ người khác xem hộ. Ra về còn lấy mấy hào của mẹ tôi. Bọn cậy quyền thế ma mãnh, vơ vét và ăn chặn hết cả miếng ngon của đám trẻ nghèo.

Xã tôi phát động phong trào chống mê tín dị đoan. Bao nhiêu đình chùa miếu mạo biến thành trường học, kho thóc của hợp tác xã, học sinh được huy động đi đập bát hương. Người già lầm bầm, phá hết quá khứ thì định để gì cho tương lai đây.

Chùa Ngô là một ngôi chùa rất cổ kính của tổng Trường Yên và có sư trụ trì. Tương truyền, chùa này rất thiêng, cây đa, cây gạo rất nhiều ma lởn vởn. Mỗi lần đám trẻ lớp 2-3 đi học qua chạy thục mạng vì sợ ma mặc quần áo trắng ra bóp cổ. Nhưng ma và thần linh cũng không giúp gì cho ngôi chùa khỏi bị phá nát bởi những quyết định từ trên xuống cần được “quán triệt”.

Vườn nhà cao nên trồng bắp cải, su hào rất nhiều. Mỗi khi mùa Đông đến, khi đi học lớp 3-4 trường Tổng, tôi hay giúp mẹ chèo thuyền chở rau dọc theo sông Hoàng Long về chợ Trường Yên để bán. Sợ con đói nên bà mua cho 5 xu bánh đúc. Một đứa trẻ lên 10 sau khi đã chèo thuyền 3 km thì đĩa bánh đúc không đủ dính ruột.

Thuyền nay không khác xưa

Thuyền nay không khác xưa

Một thuyền nan chở rau chỉ đủ mua thúng gạo cho cả nhà 10 người ăn trong 3 ngày. Hết ba ngày mà chưa có lứa rau mới chỉ còn cách ăn sắn thay cơm. Ăn ngô, khoai, sắn nhiều quá nên bây giờ, các bạn Hà Nội thích đặc sản quê mời, Blog HM thường lắc đầu vì nhớ lại thời củ khoai cõng 3 hạt cơm.

Sáng sớm mà nước lên thì chèo thuyền rất sướng. Nhưng nếu phiên chợ vào ngày con nước quả là mệt. Có lần sương mù mịt như Chu Du đánh Tào Tháo trên sông Xích Bích. Hai mẹ con thấy thuyền trôi nhanh thích quá, cứ tưởng đã đến chợ, hóa ra thuyền quay mũi lúc nào mà không biết, mất cả phiên chợ, đành bán như cho.

Xã Trường Yên nay đã đổi khác nhiều. Về đây có cảm tưởng cả vùng đất là công trường xây dựng hối hả. Anh Xuân Trường, bạn học của cậu em út, là chủ thầu xây dựng chùa Bái Đính và một con đường cao tốc đi qua 99 ngọn núi. Mấy lần về định tìm gặp anh, nhưng có lẽ khó gặp hơn cả Obama bên Nhà Trắng. Nhìn khu du lịch sinh thái do anh Xuân Trường quản lý cũng thấy rất xứng tầm con cháu Đinh Lê.

Rồi đây Ninh Bình sẽ là thủ đô Phật Giáo của cả nước với chùa Bái Đính có tất cả những cái nhất: chùa to nhất, qui mô nhất, tượng to nhất và rất nhiều cái nhất khác. Ai cũng hỏi, tiền kia ở đâu ra, do ai tài trợ, không hiểu kinh phí có “nhất”.

Nhớ chuyện xưa phá chùa, miếu mạo, đền thiêng. Nay lại xây từ số không. Đợi 1000 năm nữa chùa Bái Đính lại thành một di tích có một không hai trên thế giới nếu không bị tàn phá bởi những “thay đổi bể dâu”.

Phát Diệm có thủ đô Công Giáo với nhà thờ đá đẹp nhất Việt Nam. Bây giờ tỉnh nhà thêm chùa Bái Đính to nhất Đông Dương, thủ đô tâm linh.

Một tỉnh mà có đến hai thủ đô, nếu kể thêm cố đô Hoa Lư 1000 năm thì quê Blog Hiệu Minh có…ba thủ đô.

Vì nhiều thủ đô quá nên dân quê tôi hay lang bạt kiếm ăn xứ người. Đám bạn học phổ thông hoặc ở Hà Nội hay Sài Gòn, có tay trôi dạt sang Mỹ kiếm cơm.

Vùng này theo Lương (Phật) và làng Hối bên kia sông theo Thiên chúa. Hai làng này ít khi gả con cái cho nhau chỉ vì Lương và Giáo không thể sống hợp nhau. Không hiểu Ninh Bình với hai thủ đô Giáo-Lương có “cãi nhau” hay không?

Mỹ cũng vài lần ném bom vào làng Tụ An vì ngã ba sông giấu cái phà cho ô tô qua cầu Gián Khẩu hay có khi anh phi công Mỹ nhìn thấy đàn trâu nên muốn bắn tập chơi. Nhà tôi bị bom phạt gần đổ, HM nghe tiếng bom nổ biết là mình sống.

Kết thúc entry này nhớ người anh đã mất trong chiến tranh. Hồi 10 tuổi, anh ấy đi mót sắn cứu đói trên Hòa Bình với bạn. Một mình đi suốt đêm, qua mấy nơi nổi tiếng nhiều ma, anh về tới bến đò bên Hối.

Đói mệt anh ấy chỉ gọi rất bé “Bu ơi, sang đón tôi”. Tiếng gọi của người đói khát thường yếu ớt nên ít ai nghe thấy. Cả nhà ngủ mê mệt, gọi cả tiếng không ai thưa. Cuối cùng bố tôi giật mình. Sang sông đón thì anh đã gần lả vì đói. Trong bị được 10 cân sắn cho cả nhà sống được mấy ngày.

Ngã ba sông Chanh và sông Hoàng Long nay còn lại bờ đất nhỏ quạnh hiu với những con thuyền lặng lờ trôi. Dòng nước không còn trong xanh như xưa, lục bình đã phủ kín mặt. Các cụ lập làng kể cả bố tôi đã thành người thiên cổ. Người biết về làng Tụ An rõ nhất là mẹ tôi đã 88 tuổi, gần đất xa trời, nhớ nhớ quên quên.

Thấy các em nhỏ nheo nhóc trên thuyền, tôi nghĩ về thời thơ ấu bên bến sông. Xóm làng bao gắn bó nay không còn nữa, chả còn bức ảnh nào kỷ niệm. Sinh ra ở Tụ An nhưng lòng người không mấy khi yên. Nơi chôn rau cắt rốn mất đi rồi mới thấy thương cảm làm sao, thoáng buồn về những tháng ngày xưa bên ngã ba sông.

Lời hát Bến Sông của Trịnh Công Sơn bỗng vẳng bên tai “Bến sông này ngàn năm dấu kín tâm tư//Người xưa bây giờ còn hoài cổ//Ai quay về nghe giọng hò hát Nam Ai, Nam Bình//Nghe rồi buồn vu vơ

Bài và ảnh: Hiệu Minh. Nhân chuyến thăm quê Hoa Lư 7-2009.

Bài liên quan:

Vài hình ảnh để độc giả tới thăm quê hương rất thơ mộng của Blog HM.

Bái Đính - Lễ trên đỉnh núi

Bái Đính – Lễ trên đỉnh núi

Bái Đính - niềm tự hào của quê tôi

Bái Đính – niềm tự hào của quê tôi

Đường du lịch qua 99 ngọn núi

Đường du lịch qua 99 ngọn núi

Những ngôi chùa mới xây

Những ngôi chùa mới xây

Cửa Phật ở Bái Đính

Cửa Phật chùa Bái Đính

500 tượng đá trong Bái Đính

500 tượng đá trong Bái Đính

Trường Tổng ngày nay

Trường Tổng bây giờ

Hoa Lư hôm nay

Hoa Lư hôm nay

27 Responses to Xóm Tụ An

  1. 9x Tu An says:

    Lang bay gio yen binh lam tien boi oi !^^ xl tien boi vi may ko co unikey

  2. […] tặng quà thầy cô như thế nào. Thôi thì kể vài mẩu về thời học trường làng Tụ An cho […]

  3. […] tập bằng cách bắn trâu đang thả, thấy đàn ngỗng chạy cũng xả cho vài băng. Làng HM bị ít nhất 3 lần ném bom. Nhà bị sạt gần hết. Ông bố phải dỡ ra, xếp […]

  4. ĐẶNG HỮU says:

    Đọc bài về thăm quê Hoa lư (âu sông Chanh, trưởng Tổng, Trường yên). Mình thấy vui quá, nhiều kỷ niệm quá, bởi tớ ở Hối đây, núi Thiệu đây.

    Muốn thỉnh thoảng tếu với bạn cho vui.

    • hieuminh says:

      Chào anh Hữu.

      Nguyên entry này đã có 3 đồng hương nhận. Hai anh bên Tùy Hối, một anh bên Hoa Lư. Thế giới ảo thật hay. Sẽ email riêng cho anh sau.

      Cảm ơn anh nhiều.

  5. […] Bài liên quan: Xóm Tụ An […]

  6. hoalu says:

    Anh Minh ơi, xin lỗi anh đã ghé thăm lần nào “quê” mình không chưa nhỉ…. Nếu chưa anh ghé đây nhé!
    http://www.songvan.net/express.php?cat=5&mode=view&article=147

  7. Nguyễn Việt Nam says:

    Cảm ơn công nghệ thông tin!

    Khi đọc bài của anh Hiệu Minh tôi cứ mải miết nghĩ về quê hương của mình. Cũng là bờ tre, ao làng, cánh đồng trong đê và bãi ngô ngút tầm nằm trải dài bên con sông Hồng trĩu nặng phù sa! Đâu đâu cũng là cảnh làng quê Việt Nam!

    Mải miết đọc cho đến khi hết cả phần “nhận đồng hương” của anh Hoàng Văn Điền mới tự hỏi một câu: làm sao mà một người ở Úc đọc được cuộc nói chuyện của người ở Việt Nam với một người ở Mỹ? Đúng là công nghệ thông tin đã mang mọi người “lại gần nhau”!

    Gọi là hai anh chứ chắc tôi phải gọi là chú hoặc bác và xưng cháu rồi! Lúc trước, đọc bài “Twin towers và đê Hoa Lư” nghĩ là bác Hiệu Minh đã già, sau đó nghe bác kể đi họp phụ huynh thì nghĩ bác còn trẻ! Chỉ đến khi đọc bài này mới biết bác chưa già, nhưng không phải cùng thế hệ với mình! Có điều gì không phải trong reply của mục Liên lạc thì mong bác Hiệu Minh bỏ quá cho!

    Kính bác!

    Blog HM: Đó cũng là một khía cạnh hay của thế giới “ảo”. Không gặp nhau nên tưởng tưởng ra nhiều điều thú vị. Internet giúp cho người già trẻ lại và người trẻ trưởng thành thêm. Bạn Việt Nam cứ yên tâm là thế hệ chúng tôi (anh Điền và HM) đã lớn lên trong chiến tranh những năm 1960 thì có nghĩa đã già lắm rồi. Chuyện đưa con nhỏ đến trường thì không liên quan đến tuổi tác :).

    Chúc N V Nam vui bên nước Úc. Sẽ có thư riêng về chuyện blog.

  8. Hoàng Văn Điền says:

    Kính chào Anh Hiệu Minh.

    Anh biết không khi đầu giờ chiều ngày 13/9/2009.Em nhận được thư của Anh gửi cho em, không còn cảm xúc nào hơn thế khi em nghe Anh kể về một số tên Người như Ông Thiêm. Ông Ngọ. Ôi! đó là những ông Bác họ của em đấy. Em là con Ông Hoàng Văn Biên,và là cháu nội của cụ Miến ở Thôn Minh Hoa gần chợ Trường Yên.

    Thế hệ Anh chắc cùng tuổi với Anh Cường con Bác THIÊM,và Anh Liêm con Bác Ngọ.

    Hồi nhỏ Tụ An là nơi bọn em thường thả trâu trên đê để có “điều kiện” chơi trận giả và còn tắm sông,nhất là còn bò vào những vườn dưa bở,dưa hấu ,dưa gang ăn trộm,ôm dưa vào bụng chạy thục mạng khi bị chủ nhà phát hiện.

    Tuổi thơ của em cũng khổ như Anh,ăn không no,mặc không ấm,sáng mùa đông quê mình lạnh buốt phải dậy từ hai ba giờ sáng cho trâu đi ăn để sáng ra trâu còn đi cày bừa,phải lặn xuống sông lấy rau tóc tiên cho lợn…

    Em nhớ có nhiều lần ngủ trên lưng trâu mà cứ nghĩ đang ngủ ở nhà nên ngã lăn xuống ruộng mới cày ải lại là mùa đông đất khô đau lắm,trẻ trâu nghịch ngợm có gì ăn nấy từ nhổ trộm khoai lang của hợp tác xã,rửa qua loa rồi ăn sống,thỉnh thoảng có nướng lên nhưng ngay ngoài đồng cũng hiếm rơm rạ,vì những thứ đó đều được mang về lợp nhà,đun nấu và làm thức ăn cho trâu,rồi mùa đông làm ổ rơm nằm ấm lắm ngủ không muốn dậy.

    Tụ An nơi đất bồi ven sông nên các cụ nhà mình trồng rau,trồng cây ăn quả rất tốt.Em nhớ mãi mùi hành tươi nướng than rơm vừa ngọt lại vừa thơm.

    Anh ở cạnh nhà Ông Thiêm.Ông làm thợ xây,có Anh Kỉnh vừa biết xẻ gỗ,vừa đi làm đá.Quê mình đa số là làm đá họ đi tứ xứ, cả năm. Tết mới về.

    Em còn nhớ ngày bom Mỹ ném xuống đê Hoàng Long đúng như anh nói chết mười mấy người.Bố em bế ông Đình từ hầm chữ A ra người ông ấy còn nóng(Bố em nói vậy) và Bố em làm hô hấp nhân tạo thổi ngạt nhưng Ông Đình đã chết rồi vì bị sức ép dập lồng ngực.

    Quê mình chiến tranh có nhiều cơ quan của nhà nước sơ tán về ở trong Hang Quàn,Hang Đìa,và trọ trong dân.

    Trạm máy bơm sông chanh thời Anh UYÊN phụ trách em đã cùng thằng Hoạt con ông Sang ở cả tuần để gánh phân lân từ sà lan lên vượt qua đê vào trong ruộng,cơm thì không no nhưng vì làm lấy điểm nên hai thằng ở nhờ trạm bơm cả tuần may mà Anh Uyên trồng được giàn mướp bọn em xin hoa,nụ,lá non,và cả lá ớt non nấu canh ăn ngon lắm.

    Em là con thứ hai trong nhà có 7 anh em 6 trai một gái.

    Năm 1977 có đợt nghĩa vụ quân sự xã mình đi đông lắm tới 60 người,cả tỉnh Hà Nam Ninh đi tới 250 quân.Anh đầu của em chuẩn bị thi đại học kinh tế kế hoạch thì có giấy gọi vậy là bàn đi tính lại Bố em thống nhất để em đi thay cho Anh. Và rất may năm đó Anh Biền là Anh đầu đã thi được vào trường Đại Học Hàng Hải Hải Phòng.

    Còn em đi lính 4 năm đến năm 1981 thì ra quân rồi lấy vợ và vào sống ở Đà Nẵng.Gia đình em có hai cháu trai.Cháu lớn cũng không vào được đại học,đi nghĩa vụ quân sự 3 năm nay làm công nhân.Cháu thứ hai hiện cháu đang học lớp 9.

    Địa chỉ số 2 Quang Trung Đà Nẵng là nơi cơ quan em.Em làm nhân viên ở Trung tâm phát triển hạ tầng CNTT,thuộc Sở Thông tin và Truyền thông Đà Nẵng,còn gia đình em thì ở Chung cư.

    Ở Đà Nẵng Người Trường Yên hầu như không có nên tình cảm quê hương cũng không có người san sẻ nên khi biết Anh là Người cùng quê em mừng lắm.

    Bố Mẹ em các cụ mất cả rồi ở quê còn các em,và anh đầu lấy con gái Ông Thành ở Tam Điệp.

    Tới đây kỷ niệm 1000 Năm Thăng Long Anh có về thăm Việt Nam,thăm Quê TỤ AN TRƯỜNG YÊN không ?
    Năm ngoái em có về quê nhân ngày giỗ Bố em em có lên thăm chùa Bái Đính lúc đó đang thi công như tạc tượng đá ốp cột chùa và làm đường…

    Em đọc rất nhiều bài viết trên Vietnamnet của anh nhưng không nghĩ lại là Đồng hương của anh.

    Quê Hương,và em tự hào về anh đấy. Cho em gửi lời chúc sức khoẻ,và mọi điều may mắn đến với gia đình .

    Em Hoàng Văn Điền

    Blog HM: Cảm ơn anh HVĐ. Anh Cường, anh Quốc con cụ Thiêm nhắc đến trong comment là bạn hàng xóm, nhà ngay trước mặt của nhà HM. Viết Entry “Twin Towers và đê Hoa Lư” đăng trên Vietnam Net có nhắc đến làng Tụ An và Trường Yên. Độc giả Hoàng Văn Điền liền nhận đồng hương ngay trên mạng. Thật xúc động. Quan trọng hơn cả, những gì viết rất chân thực và được bạn đọc kiểm chứng.

  9. Đọc thấy thương cho HỒN VIỆT.

    Ngày xưa, các cụ đặt tên đất-tên người thường độc 1 chữ (thuần Nôm/Nam). Ông vua “sính” chữ Thiệu Trị đã “xóa sổ” rất nhiều địa danh cổ. Thậm chí Thánh Gióng còn bị đổi là Phù Đồng thiên vương. Ngày nay, tên trẻ con 5-6 chữ là mốt quý sờ tộc.

    Nhìn gác chuông Nhà thờ Phát Diệm sao thấy gần gũi. Ngó mấy cái ảnh chùa Bái Đính sao giống thấy “Made in Tàu”.

  10. Flan says:

    Bài viết chứa đựng tình cảm dạt dào của đứa con đi xa với cha mẹ, với Tụ An.

    Chi tiêt tả về người anh gọi đò xúc động quá. Cảnh ông thầy bói ăn hết dĩa đồ cúng gợi nhớ đến chuyện ” trẻ con không được ăn thịt chó”- thấy thương ghê.

    “Sinh ra ở Tụ An nhưng lòng người không mấy khi yên” – hay- Tụ an mà lòng người không an nên không “tụ” được

  11. LM82 says:

    Ai đi xa đều có nỗi nhớ da diết về tuổi thơ và quê hương ngày xưa như tác giả Hiệu Minh. Chính những hoài niệm về quá khứ mà nhiều người thích tranh “Phố cổ” của HS Bùi Xuân Phái.

    Là nơi có cố đô 1000 năm Hoa Lư, thủ đô của cả Phật giáo và Công giáo VN, có rừng Cúc Phương và nhiều danh lam thắng cảnh thì quê hương của tác giả HM sẽ là địa điểm nổi tiếng cho khách du lịch thập phương.

    Và tôi tin Blog HM sẽ là một cây cầu cho khách tới thăm “thủ đô du lịch” này.

  12. DTVI says:

    Cám ơn anh HM về bài viết quê anh. Nó giống như chính quê tôi, quê các bạn – làng quê Việt nam.

  13. Nguyễn Trung Cương says:

    Hi chú Hiệu Minh,

    Bố cháu gắn bó cả tuổi thơ ở làng Tuỳ Hối. Ông Bà nội cháu (có thể chú biết ông Sinh và bà Đồng) thì sống đến 1992 mới ra Quảng Ninh sống cùng gia đình cháu. Cháu được nghe Bố kể chưa nhiều về quê hương, nhưng qua những lần về thăm họ hàng và những chuyện kể của Bố, những cái tên như Trường Yên, Sông Hoàng Long,… đã quá thân quen.

    Cháu rất cảm ơn chú vì khi đọc được những dòng này, cháu thấy hiểu hơn rất nhiều quê hương. Nhất định cháu sẽ làm được điều gì cho quê hương trong thời gian không xa.

    Cháu: Cương (FPT Software)

    Blog HM: Cảm ơn cháu Cương. Làng Tùy Hối và xóm Tụ An cách nhau đúng một con sông Hoàng Long. Tuổi thơ nghèo của bố cháu và những người như chú đi qua nơi đây. Cả hai làng ấy nay không còn nữa vì tất cả đã phải chuyển vào trong đê.

    Thế hệ trẻ như cháu sẽ giúp thay đổi đất nước và quê hương sang một vị thế mới. Khi nào về thăm nhớ chụp ảnh quê hương và post lên mạng.

    Chúc cháu nhiều niềm vui

  14. Một entry rất thật, giàu cảm xúc và hấp dẫn. Tiếng gọi mẹ ” bu ơi ” bi thảm quá.

  15. Small says:

    “Đói mệt anh ấy chỉ gọi rất bé “Bu ơi, sang đón tôi”. Tiếng gọi của người đói khát thường yếu ớt nên ít ai nghe thấy. Cả nhà ngủ mê mệt, anh ấy gọi cả tiếng không ai thưa. Cuối cùng bố tôi giật mình. Sang sông đón thì anh đã gần lả vì đói. Trong bị được 10 cân sắn cho cả nhà sống được mấy ngày.”

    Đọc đoạn này mà ko dám hình dung cảnh tượng đói khát vào thời ấy nữa. Thời kỳ của ông bà, ba mẹ mình sao mà khổ quá!

%d bloggers like this: