Ngòi bút của Gs. Phan Đình Diệu

Gs. Phan Đình Diệu

Hiệu Minh Blog. Giáo sư Phan Đình Diệu làm khoa học, viết nhiều sách, bài báo sắc sảo, và chính luận gây nhiều hiệu ứng xã hội. Ngoài đời, anh còn có những bài thơ hay về những trí thức đáng kính như Tạ Quang Bửu, Trần Đại Nghĩa, Nguyễn Thúc Hào. Có lẽ còn nhiều bài khác, kể cả thơ tình, nhưng chưa công bố, hoặc in rồi nhưng chưa đưa lên mạng.

Có lần anh tâm sự với tôi về Khuất Nguyên (340 TCN – 278 TCN) nổi tiếng của Trung Quốc thời xưa và coi đó là thần tượng “người trong sống trong thời đục”.

Khuất Nguyên có tài học rộng, giỏi về chính trị, có tài văn chương. Nhiều kẻ trong triều ghen ghét, tìm cách hãm hại, ông buồn chán và viết Ly Tao để tả nỗi buồn bị vua bỏ.

Cuối đời, Khuất Nguyên bị vua Tương Vương đày ra phía nam sông Dương Tử. Thất chí,  suốt ngày ca hát như người điên, làm bài phú “Hoài Sa” rồi ông ôm một phiến đá,  trẫm mình xuống sông Mịch La.

Khuất Nguyên có câu nổi tiếng với lão đánh cá khi ông hỏi tại sao đến nỗi phải tự tử “Cả đời đục cả, một mình ta trong; mọi người say cả, một mình ta tỉnh”.

Cảm ơn các còm sỹ Hà Thiên Hậu, Hồ Tú Bảo, Historian, Cao Sơn và nhiều bạn khác đã sưu tầm những bài viết sau đây của Giáo sư Diệu. Nếu ai có những bài khác, xin gửi đến blog để giúp chúng ta hiểu thêm về một Khuất Nguyên khác của thời đại.

Nhớ về một người thầy thanh cao mà bình dị

Tác giả: Phan Đình Diệu

Đầu năm 1953, tôi vào học phổ thông cấp 3 của trường Phan Đình Phùng, tỉnh Hà Tĩnh. Năm học này, trường đã dời địa điểm về xã Ngu Lâm ở phía nam huyên Đức Thọ. Là một học sinh nhà quê từ vùng nông thôn Can Lộc lên học “Trường tỉnh” ở huyên Đức Thọ vào thời đó đối với tôi là một sự kiện lớn, một niềm vinh dự.

Nếu Hà Tĩnh được xem là một tỉnh có truyền thống hiếu học, thì Đức Thọ (cùng với Hương Sơn) là vùng văn hóa tập trung của tỉnh, với biết bao tấm gương về những con người tài năng mà suốt thời tuổi nhỏ tôi vẫn thường được nghe các bậc cha anh nhắc đến với niềm cảm phục, ngưỡng mộ.

Trường TH Phan Đình Phùng hôm nay. Ảnh: internet

Trường Trung học Phan Đình Phùng là trường học lớn nhất tỉnh, nơi có nhiều thầy giáo đã từng dạy học trước Cách mạng tháng Tám, hoặc là các nhà văn, nhà khoa học, nhà hoạt động xã hội, do thời cuộc đưa đẩy đã tụ hội về trường cùng làm cái nghề dạy học vốn được xem là thanh bạch và cao quý. Bọn học trò nhỏ mới được vào trường như chúng tôi trong những buổi đầu nhìn lên các thầy với một niềm tôn kính và ngưỡng mộ, nhưng không khỏi có ít nhiều mặc cảm của sự cách biệt.

Thời gian êm ả trôi qua, và tôi quen dần với cuộc sống chật vật nghèo nàn của một học sinh xa nhà ở trọ và với những buổi học ban đêm đèn dầu không đủ ánh sáng nhưng đầy hấp dẫn bởi những bài giảng nhiệt tình của các thầy mở ra cho chúng tôi niềm đam mê đến với những miền kiến thức mới mẻ về toán học, văn học, địa lý, lịch sử. Những mặc cảm cách biệt qua đi lúc nào không biết, thầy trò, bè bạn dần trở nên gắn bó thân thiết như trong một gia đình.

Tôi nhớ, vào một chiều mùa thu năm 1953, đang ngồi học một mình trong nhà trọ thi chợt nghe tiếng chó sủa, nhìn ra cổng thấy một ông khách cao lớn đội chiếc mũ lá đi vào. Ngỡ ngàng một chút rồi nhận ra ông khách là thầy Trần Quốc Nghệ, tôi vui mừng và lúng túng mời thầy vào nhà như được đón nhận một vinh dự bất ngờ.

Trong mắt tôi và theo những gì mà tôi được biết, thầy Nghệ là một người đa tài, từng trải, một người am hiểu cả Nho học và Tây học, một thầy dạy Văn rất “uyên bác”, còn tôi là học trò binh thường, chưa biểu lộ được một chút đặc sắc gì về môn học của thầy và vẫn nghĩ rằng mình chẳng có gì đáng được thầy để ý. Vậy mà bỗng nhiên được thầy đến chơi.

Nhìn quanh trong nhà thấy không có gì đáng đem ra mời thầy, tôi chỉ vào bếp rót bát nước chè xanh đưa lên bàn rồi ngồi nghe thầy nói. Thầy ân cần hỏi thăm về tình hình sinh hoạt, học hành, khuyến khích phải chăm học, đừng để uổng phí tuổi trẻ.

Trời bỗng nhiên nhiều mây, rồi lất phất mưa bụi. Tôi mừng vì lưu giữ được thầy ở lại lâu hơn, nhưng thật băn khoăn vì tiếp thầy quá ư đạm bạc. Bỗng thầy nhìn ra ngoài vườn rồi bảo tôi: “Cậu ra hái quả khế chua vào đây”.

Trời ơi! Chẳng lẽ tiếp thầy bằng mấy quả khế chua sao? Hái khế xong, tôi đang lúng túng vì không tìm ra được thứ gì có thể ăn với khế (chút đường ngọt cũng không có), thì lại nghe thầy bảo: “Tìm trong nhà có cái bình vôi đưa ra đây”.

Tôi tìm được bình vôi (ăn trầu) đưa ra, thầy điềm nhiên cầm chìa vôi quệt một ít vôi trong bình ra đĩa rồi cắt khế ra từng miếng, chấm vào vôi và đưa lên miệng. “Cậu có biết ăn cách này không?” – Thầy hỏi.

Tôi xúc động nghẹn ngào “Có ạ”, rồi hai thầy trò cùng ngồi nhấm nháp bữa tiệc “khế chấm vôi” và nghe thầy kể bao nhiêu chuyện thú vị về văn hóa sinh hoạt ẩm thực của quê hương.

Cho đến nay đã hơn nửa thế kỷ trôi qua, nhưng kỷ niệm về “bữa tiệc”độc đáo đó vẫn không bao giờ phai mờ trong ký ức tôi, với hình ảnh thân thiết bình dị của thầy và bữa tiệc “khế” như của hai cha con nông dân nghèo trong mái nhà tranh của tuổi thơ quê hương.

Giai đoạn 1953 – 1954 là một giai đoạn nhiều xáo trộn bi thương trên mảnh đất quê hương Nghệ Tĩnh của chúng tôi. Bên cạnh những niềm vui lớn về những chiến thắng của cuộc kháng chiến đang dần đi đến hồi kết, thì những màn đấu tố từ các phong trào “ chống phản động” rồi “giảm tô”, “cải cách ruộng đất” càng ngày càng gay gắt, đưa cả một vùng quê vào cảnh xáo trộn. Thầy giáo và cả các anh chị học sinh lớn tuổi của trường tôi không hiểu vì sao cũng trở thành đối tượng của cuộc đấu tố đó.

Tôi thấy thầy Nghệ vắng mặt ở trường một thời gian. Cho đến một buổi sáng trời mưa phùn vảo khoảng giữa năm 1954, tôi đang đi bộ một mình trên đường từ Lạc Thiện lên thị trấn Đức Thọ thì bổng gặp thầy trong một hoàn cảnh thật trở trêu.

Đường xa mỏi mệt, đang lủi thủi một mình thì thấy từ xa đi theo hướng ngược lại một tốp ba người, người đi giữa dáng cao lớn, mang một chiếc tơi lá, hai người đi kèm sau là hai dân quân, một người cầm súng, một người cầm gậy.

Đi gần thêm một chút, tôi bổng rụng rời nhân ra người đi giữa là thầy Nghệ kính yêu của mình. Tôi không khóc được. Tôi có cảm tưởng thầy cũng nhìn thấy tôi vì thấy thầy chững lại một bước chân. Rồi tất cả lại tiếp tục đi. Tôi hét lên một tiếng “Thầy ơi!” và nghe tiếng quát lại của anh dân quân “Đi đi” và thế là hết. Tôi nhìn vuốt theo bóng thầy đi cao đạo điềm đạm giữa trời mù sương mãi cho đến khi khuất bóng.

Một năm sau, giữa đường phố Tràng Tiền của Hà Nội sau ngày giải phóng, tôi tình cờ lại gặp được thầy. Tôi đã qua cái thời thơ bé và thầy đã có thể nói chuyện với tôi ít nhiều về thời cuộc, về thế thái nhân tình.

Hai thầy trò cùng đi dạo mát một lát, ôn lại những câu chuyện học hành của tôi, còn tôi, vẫn với niềm ngưỡng mộ đối với thầy như xưa, tôi không dám hỏi những chuyện mà tôi e là thầy cũng không muốn trả lời. Đó là vào khoảng thời gian mà báo “Nhân văn” mới bị đình bản, và vụ “Nhân văn, Giai phẩm” đang bắt đầu bị lên án gắt gao, và theo lời đồn đại, thì thầy cũng không phải hoàn toàn bàng quan với những xu hướng đó.

Bẵng đi mấy chục năm, đất nước và quê hương đã đi qua một cuộc chiến tranh khốc liệt, những năm tháng hòa bình nhưng còn đói nghèo vất vả. Cho đến đầu thập niên 1990, tôi mới được gặp thầy. Thầy đã già, nhưng vẫn quắc thước như xưa.

Một lần đến thăm thầy, trước khi ra về, bỗng thầy cầm tay tôi và hỏi: “Nghe nói gần đây cậu có một số bài viết được nhiều người quan tâm, lần sau có đến đưa cho mình xem nhé!”. Tôi vâng dạ, nhưng tiếc là chưa tìm lại được những bài mà thầy yêu cầu thì được biết thầy đã về Hà Tĩnh.

Và với lần về quê đó thầy đã mãi mãi không ra Hà Nội nữa. Theo lời nhắn của thầy qua bạn Nguyễn Quang Thân, tôi có kịp nói chuyện qua điện thoại với thầy một lần, chúc thầy mạnh khỏe để còn hy vọng gặp lại thầy.

Nhưng rồi, thầy đã ra đi. Hôm đến viếng thầy ở nhà cô Lành (Con gái thầy) tôi được xem mấy tấm ảnh về phần mộ của thầy, nơi yên nghỉ của thầy đặt ở lưng chừng núi, nhìn ra một vùng non xanh nước biếc của mây trời Hương Sơn, tôi thầm cầu chúc cho hương hồn của thầy được mãi thanh thản cùng đất trời non nước.

Thầy, một con người thanh cao mà bình dị.

Tháng 8 năm 2004, Phan Đình Diệu.

Thơ tặng Giáo sư Tạ Quang Bửu

Tạ Quang Bửu ký hiệp định Geneve về VN 1954

Một khối nghĩ suy, một khối tình
Nước non là đó, nọ là mình
Đã tròn một cuộc, bầu tâm huyết
Chưa thỏa đôi bề, lẽ tử sinh
Nghĩa nặng nhân tình còn quyến luyến
Ánh ngời tài trí vẫn lung linh
Nỗi đời chất chứa lòng ưu ái
Một khối nghĩ suy, một khối tình.

Thơ tặng Giáo sư Trần Đại Nghĩa

Nghĩa lớn gọi về với nước non
Buồn vui đã trải cuộc vuông tròn.
Rèn tài văn võ thời phiêu bạt
Gánh việc giang san thuở mất còn.
Tình nặng, ấy chưng tình đất nước
Nghiệp đời há kể nghiệp vàng son.
Gốc thông đứng thẳng dầu mưa gió
Để gió lành reo ngát nước non.
 
Mừng thọ thầy Nguyễn Thúc Hào 70 tuổi
 

Thầy Nguyễn Thúc Hào và học sinh cũ

Một tấm gương trong giữ vẹn tròn
Sá bao công lội suối trèo non
Tay dù trắng, đẹp đời trong trắng
Lòng vẫn son, bền chí sắt son
Từng trải nắng mưa, lo nghiệp lớn
Giờ vui mây nước, mảnh tình con
Đời còn sương bụi bao mờ tỏ
Xin hãy long lanh ánh nguyệt tròn.

Theo còm sỹ Historian, bài thơ này họa lại bài thơ của Giáo sư Văn Như Cương, anh trai của chị Văn Thị Xuân Hương, phu nhân của Giáo sư Diệu.

Kính tặng Thầy

by Văn Như Cương

Trăm năm tính mãi cuộc vuông tròn*
Để lại danh gì với nước non?
Chẳng thiết mưu danh cùng kiếm lợi
Không cần trát phấn với bôi son
Xưa đà ngang dọc ngôi trường lớn
Nay vẫn tung hoành mảnh đất con
Còn sống còn xem thời với thế
Rồi đây ai tính cuộc vuông tròn.

Chú thích:  * Thầy Nguyễn Thúc Hào là Giáo sư hình học chuyên “tính cuộc vuông tròn”. Bài viết của Gs. Văn Như Cương về thầy Hào lúc 95 tuổi có thể tìm thấy ở đây.

Giáo sư Nguyễn Thúc Hào cũng có họa lại:

Ngậm ngùi tuổi đã bảy mươi tròn
Trả được bao nhiêu, nợ nước non?
Tính toán, không từ nghề bạc phấn
Trồng người, chẳng đoái nghiệp vàng son.
Dù chưa cống hiến gì to tát
Cũng có góp phần chút cỏn con
Thầy cũ, trò xưa mừng gặp mặt
Ấm lòng đón tuổi bảy mươi tròn.
 
Ngày 10/10/1982
 
PS. Do copy trên internet nên có thể có những lỗi về từ ngữ, mong các tác giả và bạn đọc thông cảm.

22 Responses to Ngòi bút của Gs. Phan Đình Diệu

  1. thinhraptor says:

    Để biết là mình không biết…

    GS.TSKH. Phan Đình Diệu

    Học là để hiểu biết. Học có thầy có lớp thì sẽ thu được những hiểu biết mà người khác nghĩ là mình cần được biết. Tự học thì tức là tự mình đi tìm những gì mà mình thấy là cần biết. Cho nên, tự học đòi hỏi tính chủ động, tự mình phải biết là mình biết gì, chưa biết gì và muốn biết gì, rồi mới tìm học cái mà mình muốn biết đó.
    Từ ngàn xưa, theo sách Luận ngữ, Khổng Tử đã dạy học trò: “Việc chi mình biết, nhận là biết; việc chi mình không biết, nhận là không biết; ấy là biết vậy”.
    Lời dạy này tôi được học từ thuở còn bé, nhưng càng lớn lên, càng được học nhiều, tôi càng cảm thấy thực hiện được lời dạy tưởng như đơn giản ấy mới khó lắm thay! Khi còn cắp sách đến trường thì chẳng phải băn khoăn, cái gì cũng coi là chưa biết, nghe thầy dạy mà biết; nhưng khi phải học mà không còn sự dạy bảo của thầy, một mình với sách vở, với tài liệu, thì trước cái mênh mông của tri thức, nhiều khi mình không biết nên bắt đầu từ đâu, nên xoay xở thế nào.
    Thậm chí, ngay khi đã định hướng được chủ đề mà mình muốn học, nên đọc sách gì, học theo cách nào, không phải lúc nào cũng dễ xác định ngay được. Cũng vẫn là những câu hỏi tưởng như đơn giản: biết gì, không biết gì, muốn biết gì, mà tình huống mỗi lúc một khác, không ít khi dẫn mình lạc lối.
    Tôi thường gặp tình huống: khi học một quyển sách, đọc từ đầu đến cuối tưởng rằng mình đã hiểu cả, nhưng rồi lần sau đọc lại mới phát hiện ra rằng mình đã hiểu sai cả, và điều đó không phải chỉ xảy ra một lần. Kinh nghiệm đó lặp đi lặp lại với sách này rồi sách khác dạy cho tôi một ý thức cảnh giác với những gì mà mình tưởng là đã hiểu. Cho nên, phân biệt cho được cái biết và cái chưa biết, cái hiểu và cái chưa hiểu quả thực không dễ.
    Vậy, hiểu là thế nào nhỉ? Tôi nghĩ rằng hiểu phải là nắm bắt được cái cốt lõi bản chất của một tri thức, hay như người ta thường nói, cái hạt nhân “chân lý” chứa đựng trong tri thức, thậm chí cả vẻ đẹp của tri thức đó. Khi đọc một quyển sách, thoạt đầu ta tiếp xúc với câu chữ, với ngôn ngữ, rồi với các lập luận từ câu này sang câu khác. Ta nghĩ rằng ta đã hiểu là vì các câu chữ rõ ràng, lập luận hợp logic… Nhưng lần sau ta nhận ra ta đã hiểu sai, là vì bản chất của tri thức thường nằm đằng sau, ẩn bên trong cái vỏ hình thức của những ngôn ngữ và lập luận đó. Còn vẻ đẹp của tri thức thì họa hoằn lắm ta mới phát hiện được qua hình bóng của những ánh chớp tư tưởng đã từng xuất hiện ở những giây phút thần kỳ nào đó của sự sáng tạo, mà chỉ những cảm thụ đặc biệt nào đó mới phát hiện ra được.
    Cho nên, đọc sách mà muốn hiểu được sâu sắc một tri thức thì thường phải tìm lại được quá trình sáng tạo nên tri thức đó, mà ta nhớ rằng cách trình bày một tài liệu (khoa học) thường đòi hỏi tuân theo một logic diễn dịch (hình thức), gần như theo con đường ngược lại với logic của quá trình sáng tạo!
    Trên đây là nói về sự hiểu và không hiểu một tri thức mà đối với nó có một cách hiểu đúng duy nhất. Nhưng ngày nay, nhận thức của con người càng ngày càng động chạm đến những vấn đề phức tạp, khó có một tri thức nào về những vấn đề như vậy có thể được xem là duy nhất đúng, thì cái hiểu và không hiểu lại càng khó phân biệt hơn nhiều.
    Khoa học, trước yêu cầu nhận thức cái phong phú, đa dạng và phức tạp đó của thiên nhiên và cuộc sống, cũng không còn tự đặt cho mình mục tiêu phát hiện các “chân lý” phổ biến nữa, mà trở thành “khiêm tốn” hơn, khoa học xem mục đích của mình là tìm kiếm các cách “giải quyết vấn đề”, các câu trả lời cho những vấn đề mà con người gặp phải trong cuộc sống của mình. Cuộc sống luôn luôn đặt ra các câu hỏi về thiên nhiên, về vũ trụ, về thế giới, về sự sống, về kinh tế, về xã hội, về văn hóa, v.v…, con người tùy trình độ của từng thời đại mà có những câu trả lời khác nhau, có thể không tuyệt đối đúng nhưng phù hợp với nhận thức của thời đại và giúp con người có những cách hành xử thích hợp với thời đại mình.
    Theo nhà khoa học nổi tiếng Louis Pasteur, khoa học cứ bằng cách tìm kiếm câu trả lời cho hàng loạt những câu hỏi kế tiếp như vậy mà đạt dần đến những vấn đề cốt tủy của tự nhiên. Từ những quan niệm thô sơ thời Aristote, Democrite đến cơ học Newton, rồi từ Newton đến thuyết tương đối Einstein và vật lý lượng tử của thời đại chúng ta, những câu hỏi về vũ trụ và vật chất cứ liên tiếp có được những câu trả lời khác nhau, cái “đúng” của từng thời dẫu không là đúng thật vẫn giúp con người thúc đẩy cuộc sống tiến lên.
    Cũng như vậy, vấn đề “công bằng” xã hội đã được đặt ra từ thời cổ Hy Lạp, rồi đến thời cách mạng dân chủ tư sản, qua thời cách mạng xã hội chủ nghĩa đầu thế kỷ 20, và đến nay nó vẫn là một vấn đề cơ bản được tranh luận cho một mô hình xã hội ở thế kỷ 21, có thể có một định nghĩa “đúng” cho khái niệm đó hay không vẫn còn là một câu hỏi. Toán học, một ngành khoa học thuần lý, có tự chứng minh được một định lý khá thú vị (định lý Tarski): “Khái niệm “đúng” toán học là không thể định nghĩa được trong toán học”.
    Như vậy, trong môi trường mà cái đúng và không đúng của tri thức không được phân biệt rạch ròi, thì vấn đề hiểu, không hiểu cũng cần được đặt ra một cách uyển chuyển hơn. Thường gặp nhất là về cùng một vấn đề có thể có nhiều lý thuyết khác nhau, nhiều cách giải đáp khác nhau, mình chỉ biết một cách rồi xem cách đó là duy nhất đúng, thì đó là biết mà là không biết, hay nói đúng hơn, là không biết là mình không biết.
    Trong những trường hợp như vậy, để khắc phục cái “không biết” là mình không biết thì cách tốt nhất là mở rộng các cuộc thảo luận và tranh luận, để nhiều cái biết khác nhau được phát biểu, đua tranh với nhau, rồi qua chọn lựa mà tìm cho mình cái biết thích hợp nhất (chứ chưa hẳn đúng nhất), và tạm bằng lòng với cái biết tương đối đó. Cho nên, để biết là mình không biết trong môi trường mới, phức tạp hiện nay, thì điều cần thiết là biết lắng nghe, chấp nhận việc tranh luận giữa nhiều cách hiểu khác nhau về cùng một vấn đề.
    Biết mình không biết là khởi đầu của việc học và tự học, nó cũng là khởi đầu của mọi sáng tạo, đặc biệt là sáng tạo khoa học. Cho đến nay, khoa học đã đạt được rất nhiều thành tựu rực rỡ. Nhưng, những câu hỏi chưa có trả lời đặt ra cho thế kỷ mới cũng càng ngày càng nhiều. Hy vọng rằng với tinh thần “biết là còn nhiều điều mình chưa biết” sẽ giúp cho chúng ta thêm năng lực sáng tạo để tìm được câu trả lời thỏa đáng cho những câu hỏi đó

  2. Thinhraptor says:

    (Một bài hay của GS Phan Đình Diệu )
    Tri thức là gì?
    Phan Đình Diệu, Đại học Quốc gia Hà Nội

    I. Vấn đề tri thức và “xã hội tri thức”

    1. Từ vài thập niên gần đây, với những tác động mạnh mẽ của các tiến bộ khoa học và công nghệ, đặc biệt của công nghệ thông tin và truyền thông, thế giới đang biến chuyển tới một nền kinh tế và xã hội mới mà thông tin và tri thức được xem là nguồn lực chủ yếu. Trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay, điều đó cũng tác động mạnh mẽ đến các nước đang phát triển, như ta thường nói, nó mang đến cho ta cả những cơ hội, cả những thách thức. Cơ hội thì thường dễ tuột qua nếu không đủ bản lĩnh và hiểu biết để tận dụng, còn thách thức thì đầy nghiêm khắc và nghiệt ngã… Nền kinh tế tri thức, xã hội tri thức…nó là của ai, cho ai? Nó có là của ta, cho ta hay không? Điều đó phụ thuộc vào bản lĩnh và ý chí phát huy mọi tiềm năng tri thức trong đất nước ta, phụ thuộc vào khả năng mở rộng một môi trường tự do và lành mạnh cho các hoạt động giao lưu thông tin và tri thức trong xã hội ta.

    Trong một báo cáo gần đây của Uỷ ban Liên hiệp quốc về Khoa học và Công nghệ vì sự phát triển {1} với chủ đề “Các xã hội tri thức: Công nghệ thông tin vì sự phát triển bền vững”, các tác giả đã đi đến kết luận: Các nước đang phát triển từ những điểm xuất phát khác nhau đều cần xây dựng một kết cấu hạ tầng thông tin quốc gia để phục vụ các mục tiêu phát triển, hướng tới một “xã hội tri thức” đổi mới; và dù cái giá phải trả cho việc xây dựng kết cấu hạ tầng thông tin đó là khá cao, nhưng cái giá phải trả cho việc không làm điều đó chắc sẽ còn cao hơn rất nhiều!

    2. Chúng ta đều biêt rằng tri thức có vai trò hết sức quan trọng góp phần tạo nên mọi thành tựu và tiến bộ trong lịch sử phát triển của văn minh nhân loại. Mặc dù những câu hỏi có tính triết học về bản chất của tri thức, về quá trình hình thành tri thức, về quan hệ giữa vật chất và trí tuệ…Vẫn không ngừng được tranh luận và chưa có được câu trả lời thoả đáng, nhưng trong mọi lĩnh vực hoạt động khoa học, kinh tế, văn hoá, tri thức vẫn luôn được tìm kiếm, phát hiện, và tác động ngày càng lớn đến sự phát triển xã hội loài người.

    Máy tính điện tử, công cụ chủ yếu của Công nghệ thông tin hiện đại, là loại máy móc thay thế con người trong các hoạt động lao động trí óc. Chất lượng và khối lượng của các hoạt động trí óc này không ngừng tăng lên theo sự tiến triển nhanh chóng về khả năng lưu trữ và xử lý thông tin của máy. Từ hàng chục năm nay, cùng với khả năng tính toán khoa học ký thuật không ngừng được nâng cao, các hệ thống máy tính đã được ứng dụng để tổ chức nhiều cơ sở dữ liệu thuộc mọi qui mô trong các ngành kinh tế, xã hội, hình thành dần kết cấu hạ tầng thông tin quốc gia, nền móng của sự phát triển kinh tế thông tin ở nhiều nước. Sự phong phú về thông tin, dữ liệu cùng với khả năng kịp thời khai thác chúng đã mang đến những năng suất và chất lượng mới cho công tác quản lý, hoạt động kinh doanh, phát triển sản xuất và dịch vụ… Nhưng rồi các yêu cầu về thông tin trong các loại hoạt động đó, đặc biệt là trong việc làm quyết định, ngày càng đòi hỏi chất lượng cao hơn, người làm quyết định không những cần dữ liệu mà còn cần có thêm nhiều hiểu biết, nhiều tri thức để hỗ trợ cho việc ra quyết định của mình. John Naisbett đã cảnh báo “Chúng ta đang chìm ngập trong dữ liệu mà vẫn đói tri thức” {2}, điều đó cũng báo trước rằng việc ứng dụng Công nghệ thông tin đã chuyển sang một bước mới mà nội dung là trợ giúp con người nhiều hơn trong việc tìm kiếm tri thức và trong các hoạt động trí tuệ, tức là chuyển đổi từ sự giàu có thông tin thành sự giàu có tri thức, nguồn lực chủ yếu cho sự phát triển kinh tế trong giai đoạn mới (về đặc điểm của thông tin trong kinh tế tri thức có thể tham khảo{3,4}).

    3. Các khái niệm thông tin, dữ liệu và tri thức có liên quan chặt chẽ với nhau và khó mà phân biệt được bằng những định nghĩa rõ ràng. Trong bài này, ta hiểu thông tin là khái niệm chung nhất bao gồm mọi hiểu biết về các sự vật, hiện tượng, quan hệ…mà con người thu nhận được qua trực giác, giao tiếp, khảo sát, thực nghiệm, lý giải, nghiên cứu… Dữ liệu thường được cho bởi các giá trị mô tả các sự kiện, hiện tượng cụ thể; còn tri thức thường được xem là những hiểu biết có mức độ khái quát nào đó, về các mối quan hệ giữa các thuộc tính, các sự vật, hiện tượng, mang tính “qui luật” ở chừng mực nhất định, mà con người thu được qua từng trải kinh nghiệm, qua phân tích số liệu, qua nghiên cứu, lý giải, suy luận…Mong bạn đọc không xem đó là những định nghĩa, mà chỉ là những qui ước (có thể chấp nhận được!) dùng trong bài này, và vì vậy cũng thể tất cho nều một vài chỗ việc dùng các khái niệm đó có ít nhiều lẫn lộn.
    Hoạt động nhận thức của con người bao gồm việc tìm kiềm tri thức để tăng cường hiểu biết về tự nhiên, xã hội và cuộc sống, đồng thời sử dụng các tri thức có được để tạo nên các kỹ thuật, công nghệ và giải pháp nhằm không ngừng cải thiện cuộc sống của mình. Trải qua nhiều thế kỷ tích luỹ, và ngày nay có thêm sự trợ giúp đắc lực của Công nghệ thông tin, chúng ta đã có khả năng sử dụng rộng rãi tri thức trong các hoạt động kinh tế, xã hội ở vào thời đại mà bản thân thông tin và tri thức cũng đang trở thành yếu tố chính của các loại hoạt động đó. Và dĩ nhiên, con người không chỉ thụ động sử dụng những tri thức đã tìm kiếm được, mà càng ngày càng chủ động tìm kiếm, thu thập thêm nhiều tri thức cho hoạt động của mình. Nều như trong nhiều thế kỷ qua, khoa học luôn hướng tới việc phát hiện những tri thức có giá trị phổ biến dưới dạng các nguyên lý, qui luật, định lý,…thì ngày nay, chúng ta cũng càng ngày càng thấy rõ rằng trong cuộc sống thường nhật, trong việc quản lý, kinh doanh, làm ăn hàng ngày chúng ta cũng rất cần có thêm những tri thức, có thể có ý nghĩa phổ biến hẹp hơn, có mức độ chính xác thấp hơn, có đời sống ngắn hơn,…nhưng lại đáp ứng trực tiếp hơn các yêu cầu giải quyết công việc của con người. Mà, việc tìm kiếm những tri thức này cũng không hề đơn giản! Một trong những nguồn nguyên liệu quan trọng để từ đó khai phá, tinh luyện thành tri thức chính là các hệ thống thông tin, các cơ sở dữ liệu phong phú mà công cuộc tin học hoá đã và đang tiếp tục tích luỹ được. Khai phá dữ liệu và phát hiện tri thức, một hướng nghiên cứu mới đang phát triển mạnh hiện nay, chính là để tìm các giải pháp cho công việc quan trọng đó.

    Trong bối cảnh đó, quan niệm về tri thức cũng có nhiều biến đổi, mởi rộng hơn. Và cùng với việc mở rộng quan niệm, cũng có nhiều mở rộng đối với các phương tiện ngôn ngữ dùng để biểu diễn tri thức, các phương pháp thu thập tri thức, các cách xử lý và lập luận trên các tri thức…Trong các phần dưới đây, ta sẽ giới thiệu một số nội dung chính trong các hướng nghiên cứu đó.

    II. Các cách tiếp cận khoa học và công nghệ về tri thức.

    1. Cho đến gần đây, mọi hoạt động liên quan đến việc hình thành tri thức và các quá trình suy luận trên tri thức đều thuộc chức năng đặc biệt của bộ não con người. Sự ra đời của máy tính điện tử đã mở ra triển vọng một số chức năng trí óc đó có thể dần dần được thực hiện (và thực hiện với năng suất cao hơn!) bởi máy tính. Ngay từ buổi đầu, các nhà khoa học được coi là cha đẻ của máy tính điện tử như A.Turing{5}, J.von Neumann {6} đã phân tích, so sánh các năng lực hoạt động của bộ óc và của máy tính, và đưa ra nhiều nhận xét lạc quan về khả năng tư duy của máy tính trong tương lai.

    Những thành tựu bước đầu của việc dùng máy tính để tự động hoá chứng minh các định lý của Lôgích toán, để chơi cờ, để phiên dịch,…ngay từ thập niên 50, tuy còn khá thố sơ nhưng cũng đủ để kích thích sử phát triển khi bùng nổ khi âm thầm của nhiều ngành khoa học và công nghệ tri thức trong những thập niên tiếp theo. Và trong quá trình phát triển đó, một mặt con người có dịp tìm hiểu sâu hơn bản thân hoạt động nhận thức của mình, hệ thống tri thức mà mình đã tích luỹ được, những thuộc tính của tri thức và những đòi hỏi đối với tri thức trong hoạt động thực tiễn của con người trong một môi trường ngày càng nhiều biến động; mặt khác thúc đẩy việc nghiên cứu đề xuất nhiều phương pháp khoa học và giải pháp công nghệ để biểu diễn tri thức, thu thập và tìm kiếm tri thức, xử lý tri thức, quản trị tri thức nhằm ứng dụng có hiệu quả công nghệ thông tin trong mọi hoạt động của con người.

    Dưới đây tôi sẽ trình bày vắn tắt quá trình phát triển đó, tạm chia theo ba bước chính sau đây:

    – Tri thức chắc chắn và các phương pháp suy luận lôgích tất định.
    – Tri thức không chắc chắn và việc tìm “qui luật” cho cái không chắc chắn.
    – Tri thức không chắc chắn trong môi trường biến động.

    2. Sự phát triển khoa học trong nhiều thế kỷ qua gắn liền với sự thống trị của tất định luận trong nhận thức. Một tri thức khoa học phải là một chân lý mà tính đúng đắn của nó được thừa nhận là hoàn toàn chắc chắn. Trong các lý thuyết khoa học, một phán đoán luôn có một giá trị chân lý: hoặc đúng, hoặc sai. Các phương pháp suy luận trên các phán đoán đó là các cách dẫn xuất từ những phán đoán đúng đã có tìm ra một phán đoán đúng mới. Một hiện tượng bao giờ cũng là hệ quả của những hiện tượng có trước và đến lượt mình lại là nguyên nhân của một hiện tượng khác. Ngôn ngữ thông dụng để biểu diễn tri thức có thể qui về dạng ngôn ngữ lôgích mệnh đề và lôgich tân từ, được làm giàu thêm bởi ngôn ngữ toán học của các biểu thức, phương trình….Các phương pháp suy luận tuân theo các qui luật của lôgich hình thức cổ điển, về cơ bản đã được hình thành từ Aristotle, với các qui luật đồng nhất, bài trung, phủ định, phủ định kép, các qui luật qui đinh mối quan hệ giữa các loại phán đoán phổ biến, đặc thù và đơn nhất, và với phép suy luận diễn dịch kiểu tam đoạn luận hay Modus Ponens. Các lý thuyết toán học, và một số lý thuyết khoa học khác chịu ảnh hưởng xu thế “toán học hoá”, đã được phát triển trong khuôn khổ của những quan điểm và phương pháp đó, xuất phát từ một số ít chân lý ban đầu được công nhận như những tiêu đề. Các tri thức luôn được xem là có giá trị chân lý chắc chắn, và các phương pháp suy luận tuân theo các qui tắc đó là đặc trưng cho phép suy luận tất định.

    Gia đoạn đầu tiên của việc ứng dụng máy tính điện tử vào việc mô phỏng và trợ giúp các hoạt động trí tuệ tự nhiên là gắn với những quan điểm nói trên về tri thức. Và việc ứng dụng đó đã thu được nhiều thành tựu trong các lĩnh vực như: Tự động hoá chứng minh các định lý lôgích, xây dựng phương pháp chung giải bài toán (Problem solving), lập trình lôgích,…(xem {7,8}). Sơ đồ chung của các bài toán được đặt ra như sau: cho một số tri thức ban đầu (có thể là một hệ tiêu đề, một tập các điều kiện…), và một mục tiêu. Vấn đề là xây dựng một phương pháp chung để theo đó tìm một chuỗi suy luận hợp lôgích sao cho từ các tri thức ban đầu suy ra được mục tiêu muốn đạt đến (nếu có), hoặc chứng minh rằng mục tiêu đó bị bác bỏ. Những phương pháp chung như vậy được xây dựng rất công phu và chủ yếu dựa vào các kết quả nghiên cứu lôgích (dạng Gentzen của các hệ suy diễn tự nhiên, nguyên lý giải Resolution Principle của Robinson {9},…). Trong một số thuật toán thực hiện phương pháp chung đó thường có thể dùng bổ sung các thủ thuật ơrisic trong một số khâu lựa chọn nhất định.

    Các hướng nghiên cứu nói trên đã phát triển mạnh vào những thập niên 60,70 và vẫn tiếp tục phát triển, tuy nhiên khi mở rộng địa hạt ứng dụng sang những lĩnh vực khác của đời sống kinh tế xã hội thì gặp nhiều vấn đề mới, đòi hỏi phải có những cách tiếp cận mới đối với quan niệm tri thức và quá trình lập luận trên tri thức. Yêu cầu mọi tri thức phải có tính chân lý chăc chắn (hay nói cách khác mọi phán đoán phải hoặc đúng hoặc sai một cách rõ ràng) được xem la hiển nhiên trong một số lý thuyết khoa học, và có thể được thoả mãn trong những ước lệ của tư duy trừu tượng, thì nói chung lại khó được thoả mãn trong nhiều lĩnh vực khác của thực tiễn đời sống con người. Mặt khác, việc dùng các thuật toán chung giải các bài toán nhằm đạt tới một tri thức mong muốn như mô tả ở trên (cũng như việc dùng các thuật toán chung giải bài toán tối ưu trong nhiều vấn đề khác) thường có độ phức tạp tính toán rất lớn, như về sau này được chứng tỏ là vượt quá xa năng lực của mọi hệ tính toán mà con người có thể tạo ra được {10}. Như vậy, qui các quá trình suy luận về một số thuật toán học hẳn là không phản ánh được nhiều khía cạnh bản chất của hoạt động nhận thức của con người.

    3. Có lẽ ngoài các tri thức đã được lọc qua những ước lệ của trừu tượng hoá nhưu các tri thức toán học ra, thì phần lớn mọi tri thức mà con người có được trong đời sống hàng ngày đều hoặc không đầy đủ, hoặc không chắc chắn, tức khó mà xác định được rõ ràng giá trị chân lý của nó là đúng hay sai. Thí dụ nói mọi con chim đều biết bay, mọi trẻ em đều thích hát là tri thức không đầy đủ, nói viêm họng uống Ampicilin thì khỏi, thanh niên cao thì đẹp, hàng nhiều thì rẻ,….là tri thức không chắc chắn,….

    Tri thức không đầy đủ liên quan đến việc xử lý tri thức các cơ sở dữ liệu. Thí dụ ta có một cơ sở dữ liệu DB về trẻ em, trong đó có 1000 em đều thích hát. Với cái “thế giới” của cơ sở dữ liệu đó, thì tự nhiên bộ óc của máy tính sẽ rút ra tri thức “mọi trẻ em đều thích hát” bằng một suy luận qui nạp. Nhưng chỉ cần đưa thêm vào DB một em X không thích hát, thì tri thức phổ biến nói trên không còn đúng. Tuy nhiên, chấp nhận các tri thức không đầy đủ thu được bằng suy luận qui nạp như trên vẫn rất cần thiết để tiến hành việc dùng máy tính tự động xử lý tri thức từ các cơ sở dữ liệu. Các hệ suy luận lôgích trong trường hợp đó là không đơn điệu (xem {11,12}). Và để việc ứng dụng không dẫn đến mâu thuẫn, người ta đã tìm cách xây dựng các hệ lôgích không đơn điệu bằng cách thêm vào hệ lôgích thông thường các giả thiết như: giả thiết miền đóng (domain closure), giả thiết thế giới đóng (werld-closed), luật hạn chế (circumscription), luật suy luận mặc nhiên (default inference),…

    Tri thức không chắc chắn có thể do không biết thật chính xác cái gì đã xẩy ra, và cũng có thể cái xẩy ra chỉ có thể hiểu một cách mơ hồ. Ngôn ngữ toán học được dùng để mô tả trong trường hợp thứ nhất là của lý thuyết xác suất hoặc lý thuyết niềm tin (Belief trong theory of evidence của Dempster-Shafer{13}), và trong trường hợp thứ hai là lý thuyết tập mờ (fuzzy set, xem {14}). “Viêm họng uống ampicilin thì khỏi” đúng với một xác suất P nào đó, xác xuất này có thể thu được chẳng hạn bằng số liệu thống kê ở bệnh viện, tức tri thức đó có thể đúng, có thể không đúng, và xác suất đúng là P. Còn “thanh niên cao thì đẹp” là mơ hồ, không thể nói đúng sai về cái cao cái đẹp, và về “nếu cao thì đẹp”. Những khái niệm này, theo Zadeh, là những tập mờ, và chỉ có thể được cho (một thích hợp. Các lý thuyết lôgich làm cơ sở cho các phép suy luận trên các tri thức không chắc chắn là lôgích xác suất (có nhiều dạng khác nhau, như: theo ngữ nghĩa các thế giới có thể, dùng nguyên lý entropy cực đại, mạng bayes với công thức về xác suất có điều kiện thích hợp với các suy luận cục bộ…), và lôgích khả năng (possibilistic logic [15,16].

    Một trong những kết quả nổi bật của cách tiếp cận nói trên đối với tri thức là việc xây dựng các hệ chuyên gia (expert sytems), phát triển mạnh trong các thập niên 70,80. Nói chung, một hệ chuyên gia gồm có một cơ sở tri thức (không chắc chắn, nhưng mỗi tri thức được cho với một xác suất đúng hoặc một giá trị biểu thị độ tin tưởng nhất định), và một cơ chế lập luận ,chẳng hạn dựa vào một trong các phương pháp lôgích nói trên. Với mỗi bộ giá trị của các tri thức ban đầu, hệ chuyên gia sẽ có khả năng định giá trị (là xác suất đúng chẳng hạn) cho các đáp án dự kiến, và do đó trợ giúp con người làm quyết định. Hàng trăm hệ chuyên gia đã được phát triển và ứng dụng trong các lĩnh vực y tế, khoa học, quản lý kinh tế, tài chính…

    Có lẽ một trong những nhược điểm chủ yếu của cách tiếp cận nói trên về tri thức là: Tuy đã chú ý đến đặc trưng không chắc chắn của tri thức trong cuộc sống hàng ngày, nhưng thói quen khái quát hoá và trừu tượng hoá của ta đã bắt các tri thức đó phải chuyên hoá theo các qui luật lập luận phổ biến, thậm chí trong khuôn khổ những hệ lôgích mà ta vẫn mong là phi mâu thuẫn. Tính mềm dẻo va sinh khí của cuộc sống chứa đựng trong cái “không chắc chắn” của tri thức, nhưng rồi cái không chắc chắn đó lại phải tuân theo sự cứng nhắc phổ biến các các luật chắc chắn (oái oăm thay!) về cái không chắc chắn, cho nên dễ được những kết quả không còn mấy sinh khí và khả năng thích nghi với cuộc sống cũng là điều dễ hiểu.

    4. Ta nhớ rằng tri thức không chắc chắn nẩy sinh và gắn liền với hoạt động hàng ngày của chúng ta, thường rút ra được từ việc phân tích, khai phá những dữ liện và thông tin mà ta thu thập được trong cuộc sống. Chúng có thể không đủ tính khái quát và mặt trừu tượng để biến thành các qui luật khoa học phổ biến, nhưng lại rất phong phú, có mặt khắp mọi lĩnh vực, và trợ giúp đắc lực cho con người trong việc làm quyết định hàng ngày. Bản thân những tri thức này thường có tính thời gian và có giá trị trong những hoàn cảnh nhất định. Những lập luận trên những tri thức loại này để rút ra các tri thức dẫn xuất thường không nhất thiết là những lập luận “chắc chắn” có tính chất suy diễn (deductive), mà còn có thể là các lập luận “có vẻ hợp lý” (plausible), tự nghiệm (autoepistemic)… Những lập luận như vậy nói chung không bảo đảm tính phi mâu thuẫn, nhưng thường lại có thể dẫn đến những tri thức hỗ trợ cho các quyết định hoặc phản ứng nhanh chóng kịp thời. Vì là những lập luận không hoàn toàn chặt chẽ lôgích thực hiện trên các tri thức không chắc chắn, nên kết quả thu được có thể là những tri thưc không chăc chắn, mà cũng có thể là những tri thức mới, có giá trị một cách bất ngờ. Máy tính không đánh giá được chất lượng và tính hữu ích của những tri thức như vậy, để đánh giá chúng không có cách nào khác là phải dựa vào sự từng trải kinh nghiệm và nhậy bén trực giác của chính con người.

    Do vậy, trong thế giới mới của kinh doanh, như nhận xét trong [17], “việc quản trị tri thức về thực chất là thúc đẩy quá trình kết hợp cộng năng giữa các năng lực xử lý thông tin và dữ liệu của công nghệ thông tin với năng lực sáng tạo và đổi mới của con người”.

    Công nghệ thông tin, tiếp tục các kết quả đã thu được trong các giai đoạn trước, đang phát triển hết sức mạnh mẽ để tạo ra nhiều công cụ và giải pháp mới nhằm tổ chức các kho thông tin và dữ liệu có khả năng linh hoạt hơn trong việc trợ giúp quyết định trên nền của những kiến trúc khách hàng, phục vụ thích hợp [18], với việc sử dụng các phương pháp khai phá dữ liệu và phát hiện tri thức hiện đang được nghiên cứu rộng rãi [2]. Khai phá dữ liệu là khâu cơ bản trong quá trình phát hiện tri thức từ dữ liệu. Để thực hiện nhiệm vụ khai phá này người ta sử dụng rộng rãi nhiều loại phương pháp khác nhau, từ các phương pháp hồi qui, tương quan, kiểm định giải thiết… là các phương pháp quen thuộc của phân tích thống kê cho đến các phương pháp mới mô phỏng quá trình học đối với các bài toán phân loại và xếp nhòm trên các mạng nơron nhân tạo [19], mô phỏng quá trình tiến hoá sinh học để xây dựng các thuật toán “di truyền” giải bài toán bằng các phép chọn lọc, trao đổi chéo, đột biến, bắt chước các phép biến đổi gien trong sinh học [20]. Không hiểu có thật giống các quá trình sinh học chút nào không, nhưng các phương pháp nói trên nhiều khi mang lại những hiệu quả đáng kể cho các bài toán tương ứng khi giải trên máy tính. Học là việc chủ yếu để có thêm tri thức, và để hoàn thiện tri thức, cho nên tìm các phương pháp ứng dụng công nghệ thông tin để mô phỏng và thực hiện quá trình học là có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc phát hiện tri thức. Và để phát hiện được nhiều tri thức tươi mới (thường là không chắc chắn) thì cần phải thường xuyên tiếp nhận nhiều thông tin và dữ liệu mới, sử dụng linh hoạt nhiều kiểu suy luận dù chỉ là “có vẻ hợp lý” như qui nạp, tương tự, phỏng đoán, theo kinh nghiệm.

    Như vậy, công nghệ thông tin có thể thường xuyên chuẩn bị cho ta nhiều tri thức, phong phú nhưng không thuần khiết, có thể thiếu chính xác, thậm chí mâu thuẫn; đồng thời có thể gợi cho ta nhiều thực đơn, không nhất thiết là tốt nhất, về các phương án hành động. Và ta có thể chọn, có thể bỏ, có thể thay đổi hoặc điều chỉnh, tuỳ từng thời điểm, từng hoàn cảnh; đó chính là nơi để chủ thể con người được phát huy năng lực sáng tạo của mình. Sáng tạo không sợ mâu thuẫn, không ngại sự thiếu chính xác. Nếu đòi hỏi mọi tri thức đều chắc chắn, mọi suy luận đều tất định, mọi bài toán đều có sẵn một lời giải tối ưu, thì đâu còn chỗ cho sáng tạo và đổi mới. Và cuộc sống là vậy, là đầy bất trắc và đầy ngẫu nhiên, là không chắc chắn và không tiên đoán được; con người phải biết thích nghi, biết tự tổ chức và tổ chức lại bằng năng lực sáng tạo và đổi mới không ngừng.

    III. Hướng tới một nền kinh tế và xã hội tri thức.

    1. Những tiến độ nhanh chóng dồn dập của công nghệ thông tin và truyền thông đã thúc đẩy mạnh mẽ quá trình đưa hoạt động tri thức về gần với cuộc sống hàng ngày. Nều trước đây, việc tìm kiếm tri thức là đặc quyền của các nhà khoa học, và tri thức phải là những điều cao xa hướng tới các qui luật tất định và phổ biến, thì bây giờ đây, càng ngày ta càng thấy rõ rằng, trong sinh hoạt và công việc hàng ngày, từ việc làm ăn, kinh doanh cho đến việc quản lý đất nước, đâu đâu cũng cần có thêm nhiều tri thức, nhất là khi sống trong một môi trường kinh tế xã hội thường xuyên biến động, liên tục thay đổi. Tri thức không nhất thiết phải chĩnh xác, phải chắc chắn, quyết định không nhất thiết phải tối ưu, có sai rồi có sửa, có mất rồi có được, nhưng hy vọng rằng càng có nhiều tri thức thì sẽ ít sai hơn, được sẽ nhiều hơn mất. Tri thức từ các qui luật phổ biến có thể cho ta các định hướng vĩ mô, nhưng không phải lúc nào cũng có thể giúp ta lấy những quyết định cụ thể hàng ngày. Mà cuộc sống “vi mô” cụ thể không còn là thuận lợi cho cơ quan, doanh nghiệp phải có khả năng thường xuyên tự tổ chức và tổ chức lại. Và cơ sở quan trọng cho những khả năng đó là một tiềm lực tri thức phong phú, và một năng lực xử lý tri thức nhạy bén, linh hoạt. Đẩy mạnh việc ứng dụng có hiều quả những thành tựu to lớn của công nghệ thông tin hiện đại, và phát huy mọi năng lực trí tuệ hướng tới sáng tạo và đổi mới của con người là hai nhân tố chủ chốt tạo nên năng lực cần thiết cho đất nước đi tới nền kinh tế tri thức và xã hội tri thức trong tương lai.

    2. Tuy là một nước nghèo, chậm phát triển, trước mắt còn vô vàn những vấn đề cấp bách phải giải quyết, những nhận thức được xu thế phát triển chung, nên, từ đầu thập niên 90, ta đã vạch ra được một chính sách tương đối toàn diện và nhất quán phát triển công nghệ thông tin ở nước ta, mà trong đó một nhiệm vụ trung tâm là xây dựng những nền móng bước đầu vững chắc cho một kết cầu hạ tầng thông tin của đất nước, có khả năng cung cấp các thông tin cần thiết cho quản lý nhà nước và cho các hoạt động kinh tế xã hội. Đẩy mạnh phát triển nhân lực và xây dựng dần một kết cấu hạ tầng thông tin là hoàn toàn phù hợp với khuyến cáo của nhóm tư vấn về xã hội thông tin của Liên Hiệp quốc đưa ra gần đây [1]. Xin nhường cho các cơ quan có trách nhiệm và thẩm quyền đánh giá các kết quả đã đạt được trong việc thực hiện chính sách nói trên. Chỉ mong rằng chính sách đó, chủ trương đó sẽ tiếp tục được đẩy mạnh thực hiện để trên đất nước ta chóng hình thành được thật sự một kết cấu hạ tầng thông tin vững chắc, làm cho xã hội ta, trong mọi lĩnh vực hoạt động, mọi cơ quan, doanh nghiệp… đầy ắp những cớ sở dữ liệu và thông tin giàu có, làm nên cho các hoạt động khai phá và phát hiện tri thức, tạo cơ sở cho việc xây dựng nền kinh tế tri thức và xã hội tri thức.

    3.

    1. Những tiến độ nhanh chóng dồn dập của công nghệ thông tin và truyền thông đã thúc đẩy mạnh mẽ quá trình đưa hoạt động tri thức về gần với cuộc sống hàng ngày. Nều trước đây, việc tìm kiếm tri thức là đặc quyền của các nhà khoa học, và tri thức phải là những điều cao xa hướng tới các qui luật tất định và phổ biến, thì bây giờ đây, càng ngày ta càng thấy rõ rằng, trong sinh hoạt và công việc hàng ngày, từ việc làm ăn, kinh doanh cho đến việc quản lý đất nước, đâu đâu cũng cần có thêm nhiều tri thức, nhất là khi sống trong một môi trường kinh tế xã hội thường xuyên biến động, liên tục thay đổi. Tri thức không nhất thiết phải chĩnh xác, phải chắc chắn, quyết định không nhất thiết phải tối ưu, có sai rồi có sửa, có mất rồi có được, nhưng hy vọng rằng càng có nhiều tri thức thì sẽ ít sai hơn, được sẽ nhiều hơn mất. Tri thức từ các qui luật phổ biến có thể cho ta các định hướng vĩ mô, nhưng không phải lúc nào cũng có thể giúp ta lấy những quyết định cụ thể hàng ngày. Mà cuộc sống “vi mô” cụ thể không còn là thuận lợi cho cơ quan, doanh nghiệp phải có khả năng thường xuyên tự tổ chức và tổ chức lại. Và cơ sở quan trọng cho những khả năng đó là một tiềm lực tri thức phong phú, và một năng lực xử lý tri thức nhạy bén, linh hoạt. Đẩy mạnh việc ứng dụng có hiều quả những thành tựu to lớn của công nghệ thông tin hiện đại, và phát huy mọi năng lực trí tuệ hướng tới sáng tạo và đổi mới của con người là hai nhân tố chủ chốt tạo nên năng lực cần thiết cho đất nước đi tới nền kinh tế tri thức và xã hội tri thức trong tương lai.

    2. Tuy là một nước nghèo, chậm phát triển, trước mắt còn vô vàn những vấn đề cấp bách phải giải quyết, những nhận thức được xu thế phát triển chung, nên, từ đầu thập niên 90, ta đã vạch ra được một chính sách tương đối toàn diện và nhất quán phát triển công nghệ thông tin ở nước ta, mà trong đó một nhiệm vụ trung tâm là xây dựng những nền móng bước đầu vững chắc cho một kết cầu hạ tầng thông tin của đất nước, có khả năng cung cấp các thông tin cần thiết cho quản lý nhà nước và cho các hoạt động kinh tế xã hội. Đẩy mạnh phát triển nhân lực và xây dựng dần một kết cấu hạ tầng thông tin là hoàn toàn phù hợp với khuyến cáo của nhóm tư vấn về xã hội thông tin của Liên Hiệp quốc đưa ra gần đây [1]. Xin nhường cho các cơ quan có trách nhiệm và thẩm quyền đánh giá các kết quả đã đạt được trong việc thực hiện chính sách nói trên. Chỉ mong rằng chính sách đó, chủ trương đó sẽ tiếp tục được đẩy mạnh thực hiện để trên đất nước ta chóng hình thành được thật sự một kết cấu hạ tầng thông tin vững chắc, làm cho xã hội ta, trong mọi lĩnh vực hoạt động, mọi cơ quan, doanh nghiệp… đầy ắp những cớ sở dữ liệu và thông tin giàu có, làm nên cho các hoạt động khai phá và phát hiện tri thức, tạo cơ sở cho việc xây dựng nền kinh tế tri thức và xã hội tri thức.

    3. Như đã trình bày ở trên, đẩy mạnh phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin mới là một vế trong việc chuẩn bị cho nền kinh tế tri thức và xã hội tri thức. Về thứ hai, có ý nghĩa quyết định, là năng lực trí tuệ, khả năng sáng tạo, đổi mới của con người. Khả năng này phải được bồi dưỡng và phát huy trong mọi lĩnh vực, từ người lãnh đạo, nhà kinh doanh cho đến mọi công dân trong xã hội. Công nghệ thông tin là quan trọng, máy tính là quan trọng, nhưng công nghệ thông tin dù hùng mạnh đến mấy cũng chỉ có thể trợ giúp con người trong một số hoạt động tri thức, máy tính dù có tính hàng tỷ phép tính một giây, về bản chất cũng mới chỉ có thể thực hiện các qui trình tất định trên những tri thức chắc chắn, cho dù với năng lực lưu trữ và tốc độ tính toán khổng lồ, ta cũng có thể dùng nó để mô phỏng và bắt chước thực hiện (xấp xỉ một cách tất định và chắc chắn!) một số lập luận không tất định trên các tri thức không chắc chắn. Cái phần không chắc chắn, không tất định, không nhất quán ấy rất là đời thường, và xét đến tận cùng, chỉ có thể được xử lý bởi những năng lực trí tuệ hết sức linh hoạt và nhậy bén, cho đến nay vẫn là đặc hữu của con người. Công nghệ thông tin có góp phần thúc đẩy con người trở về nghiên cứu bản chất hoạt động trí tuệ của chính mình, nhưng cái bản chất ấy ta vẫn chưa hiểu thấu đáo được bao nhiêu, cho nên nhiều khả năng kỳ diệu trong hoạt động trí tuệ vẫn được xem là riêng của con người, và vì vậy con người, với năng lực sáng tạo và đổi mới của mình, vẫn là nhân tố chủ đạo trên con đường đi tới nền kinh tế tri thức và xã hội tri thức

  3. Historian says:

    Anh Diệu đúng là rất thích làm thơ. Anh Diệu đặc biệt có một bài thơ tình rất cảm động, chắc chỉ có vài người bạn anh mới có. Tôi may mắn có được do là bạn thân của một người bạn của anh ở Paris. Tuy nhiên tôi vẫn đắn đo không biết có nên post lên không, vừa muốn chia sẻ một bài thơ hay, lại sợ nhỡ đâu làm mất tính riêng tư đi chăng. Bài thơ từ năm 1964, khi anh mới 27 tuổi.

    Trong lúc còn suy nghĩ thì tôi tạm post một số bài thơ của anh Diệu đã từng đăng trên các báo trong nước và hải ngoại mà tôi có.

    Tết nhớ nhà

    Tuyết rơi bao độ nhớ quê nhà
    Đã mấy xuân rồi mãi mãi xa
    Quê mẹ dẫu nay bừng khói lửa
    Vườn xuân chắc vẫn nở đều hoa
    Trông vời non nước lòng xao xuyến
    Tưởng chút niềm riêng dạ thiết tha
    Mỗi bước quê người thêm mỗi nhớ
    Yêu thương như giục tấm lòng xa

    Mạc tư khoa, Tết 1966

    Đêm Vác-na

    Đêm Vác-na nằm nghe sóng vỗ
    Tiếng vọng thời gian dìu dặt gần xa
    Xao xuyến bấy chút ngọt ngào thương nhớ
    Như biển trời kia thấm dịu ánh trăng ngà…

    Vác-na (Bungari), 1978

    Trưa Ham-buốc

    Trưa Ham-buốc chờ tàu đổi chuyến
    Chợt gặp đồng hương mà chẳng dám mừng
    Đời phân chia cho người một nước
    Vẫn xa nhau dù ở chốn tha hương

    Người đã đến đây, từ đâu phiêu bạt?
    Có mang theo một nỗi nhớ quê nhà
    Một sợi mây chiều, một tia nắng sớm
    Từ bầu trời đất nước vời xa

    Nhìn hút bóng người vào mịt mùng vô định
    Tôi bỗng bâng khuâng một thoáng buồn…

    Hamburg, một trưa 1982

    Tặng bạn Phần lan

    Kính tặng GS. A.Salomaa và P.Turakainen

    Quê bạn là đây, đầy tuyết trắng
    Rừng thông dài trải suốt đường xa
    Biết nhau nhiều mà nay mới gặp
    Chuyện hàn huyên thân mật đậm đà

    Đi cùng bạn, tôi thầm đếm bước
    Nào mấy gần và mấy xa xôi
    Để được gần nhau vài chuyện Toán
    Phải vượt bao xa mấy dặm đời

    Bạn kể: chưa lâu bạn cũng nghèo
    Trong, ngoài lắm lúc cũng gieo neo
    Nhìn bạn đời nay tôi nhẩm tính
    Lận đận quê tôi vẫn đói nghèo

    Uống với nhau đây một chén mừng
    Mai rồi lại tiếp bước tha hương
    Một chút gió lành từ đất bạn
    Tôi giữ theo tôi những dặm trường…

    Turku-Oulu, 1982
    Phan Đình Diệu

    Gửi con

    Tận quê xa, con ơi có hỏi
    Giờ này đây, bố ở nơi đâu?
    Trong giấc yên lành con có biết
    Mảnh tình riêng bố gửi về đâu?

    Một góc trời  u, bên bờ biển lạ
    Trên bước lang thang đỗ lại nơi này
    Trời Đan mạch sương mù, mưa dóng dả
    Mùa đông về se lạnh những hàng cây

    Nơi đông vui mà không người quen thuộc
    Nỗi cô đơn thấm lạnh mỗi tế bào
    Một buổi thuyết trình, vài bạn sơ giao
    Không khuây nổi lòng nhớ thương xa cách

    Đất nước hiền hòa trên từng gương mặt
    Trên mỗi sắc màu xanh đỏ thắm tươi
    Chú ngựa rơm giữa vàng son lấp lánh
    Chuyện An-đéc-xen như sống giữa cuộc đời

    Mỗi làn gió cũng đùa vui hớn hở
    Vuốt nhẹ mặt đường những thoáng lo âu
    Và bao la trời thanh bình vạn thuở
    Vẫn chứa hôm nay những xáo động muôn màu

    Mỗi bước đất người nhớ về quê mẹ
    Thương mỗi nếp nhăn vất vả sớm hôm
    Chồng câu hỏi từng đêm dài quạnh quẽ
    ước một nét vui trên những gợn buồn

    Và, con ơi,
    Bố muốn tặng con một chú ngựa rơm
    Trên gập gềnh đường xa
    con sẽ bước….

    Aarhus, Đan mạch, một ngày đông 1982

    Từ Cuba xa xôi

    Cũng đó khoảng trời xanh, cũng đây làn gió thoảng
    Mà sóng vỗ bờ kia là sóng Đại tây Dương
    Ôi đẹp một ánh trăng từ thủa ấy
    Vẫn cùng ta đi khắp mọi nẻo đường
    Khi đất Á, khi trời Âu biển Mỹ
    Vẫn dõi lòng người qua những đại dương
    Ta hiểu tình ta từ nửa vòng trái đất
    Hiểu cái lắng sâu của cuộc sống bình thường
    Bởi tự rất xa nhìn cái gần mới thật
    Mới rõ lòng người dù muôn dặm trùng dương

  4. Chưa bao giờ trên HM Blog, chủ nhà giành 3 Entry liên tiếp cho 1 nhân vật, sự việc nào.
    Hatrick này được lập thì giới Còm sĩ cũng đã kiệt…Còm. Chờ entry kế tiếp vậy!

    • Kim Dung says:

      Hi…hi…Đố Hầu Thiên Hạ bít vì sao? Nhưng ko được nói ở đây, nhá, nhá, nhá:)))

  5. Huy Minh says:

    Liệu cuộc sống có quá phức tạp? Xin gửi tới mọi người bài viết: Ý kiến nhân đọc bài “Khoa học về cái phức tạp” của GS Phan Đình Diệu:

    Fractal: Phức tạp hay Đơn giản?
    Mỗi thực thể sống là một hệ thống phức tạp và có thể nói mỗi thực thể sống là một chiếc máy tính sinh học, hết sức tinh vi và thông minh cũng như chiếc máy tính của chúng ta sử dụng ngày nay đều có 2 phần: phần cứng và phần mềm (Hardware và Software). Phần mềm điều khiển mọi hoạt động của phần cứng và các cơ chế trao đổi, lưu trữ, xử lý thông tin. Có điều chúng ta phải luôn nhớ rằng, thực thể sống là sản phẩm của tự nhiên, trải qua quá trình tiến hoá hàng nghìn, hàng triệu năm nên hiển nhiên phải rất hoàn hảo, tinh vi hơn, tối ưu hơn nhiều lần chiếc PC của chúng ta – sản phẩm do con người sáng tạo ra khoảng 30 năm lại đây.
    Đối với một hệ thống, sự hoạt động và cả chu trình sống sẽ được điều khiển bằng một phần mềm – software chứa các hàm, các biến, các hằng và theo các luật định trước. Phần mềm điều khiển mọi hoạt động trong cơ thể chúng ta chắc cũng na ná như vậy. Lúc được thụ thai, chúng ta chỉ là 1 tế bào do trứng của người mẹ kết hợp với tinh trùng của người cha, vậy mà trong cái tế bào đó, 1 chương trình phần mềm được kích hoạt để điều khiển mọi quá trình phức tạp, tinh vi diễn ra sau đó: sự phân chia, nhân đôi, sự sao chép, lặp lại, sự tạo thành các bộ phận của cơ thể và cả “phần hồn, ý thức” trong cái sinh linh bé nhỏ được diễn ra một cách tuần tự theo sự “lập trình” trước đó.
    Có điều kì diệu là, cơ thể mỗi người có từ 60 – 100 nghìn tỷ tế bào các loại!. Mỗi tế bào là một hệ thống phức tạp của quá trình trao đổi chất, có input và output (đầu vào/ đầu ra), có đủ “sinh – thành – hoại – diệt”, có các chức năng và vòng đời khác nhau nhưng chúng đều được “quản lý” một cách thống nhất, tinh vi, tài tình và hoàn toàn tự động bằng một “cái gì đó” vô cùng vi diệu mà từ xưa đến nay người ta chỉ biết gọi chung chung là “Tạo hoá”, là “Cơ địa”. Tôi cho rằng có một “cái software nào đó” trong cơ thể mỗi người đã thực hiện một cách hoàn hảo nhiệm vụ quản trị online hàng chục nghìn tỷ tế bào và chỉ có phần mềm của Thiên nhiên (Ông Trời/ Thượng Đế) mới có thể tinh vi, hoàn hảo đến như vậy. Nên chăng, chúng ta cũng sẽ từng bước “học tập, làm theo” cách thức của thiên nhiên, của Tạo hoá trong việc quản lý xã hội, dĩ nhiên, bằng “phần mềm tin học”.
    Chúng tôi tưởng tượng rằng, để quản lý cỡ 80.000 tỷ tế bào, mỗi tế bào sẽ được mã hoá và gắn với một số ID (đánh số, định danh, giống như số chứng minh thư nhân dân) duy nhất và thông qua ID này, thông tin số liệu về mọi mặt hoạt động của mỗi tế bào sẽ được giám sát, trao đổi (truyền tin) và lưu trữ đâu đó trong cơ thể chúng ta bằng một “chương trình phần mềm” hoạt động theo một cơ chế hết sức tinh vi. Với số đối tượng phải quản lý online lên tới hàng chục nghìn tỷ (trong hàng chục năm) thì những hệ thống thông tin mà con người đang vận hành quả là không thấm vào đâu (dân số nước ta mới khoảng 90 triệu, cả thế giới chưa đến 7 tỷ người!). Đi sâu hơn nữa vào tận nhân của mỗi tế bào sống, chúng tôi hết sức kinh ngạc thấy rằng chiếc thang xoắn ADN phải chăng chính là đoạn mã lệnh (CODE) quan trọng chứa đựng không chỉ các thông tin di truyền mà còn là những chương trình con (sub-broutine) cấu thành chương trình tổng thể của mỗi người. Giải phẫu cơ thể người chúng ta thấy có các cơ quan chức năng: tuần hoàn, hô hấp, bài tiết, tiêu hoá, vận động,… nhưng xuyên suốt các hệ chức năng đó là hệ thần kinh đóng vai trò đảm bảo thông tin trao đổi giữa các bộ phận với nhau thông qua thần kinh trung ương, thậm chí mọi thông tin về tình trạng của mỗi tế bào cũng phải được lưu trữ, xử lý và cập nhật online (một cách tự động, tinh vi và tài tình).
    Trở lại vấn đề Fractal, khái niệm gắn với nó là Đệ quy, phép chiết hình, sự sao chép, sự lặp lại. Chẳng hạn trong một cái cây cành cây cũng mang hình dáng như một cây; Trong cây Phả hệ, một nhánh, một chi sẽ phát triển theo thời gian thành một Phả hệ con; hoặc trong tổ chức xã hội các Bộ, ngành,..là các nhánh của Cây Chính phủ…. Có rất nhiều ví dụ minh hoạ tính chất đệ quy, nhiều đến mức S. Freud phát biểu “mọi quan hệ đều là cha con” (Totem và Taboo). Trong toán học, người ta mô tả Fractal bằng các hàm đệ quy – hàm gọi đến chính nó Fn(x) = Fn-1(x) + C, khi cho chạy (vẽ) các hàm này trên máy tính sẽ được nhiều hình vẽ rất thú vị như GS Phan Đình Diệu đã nói “.. các hình hình học gãy vỡ, có thể chia ra nhiều cấp độ, mỗi phần ở cấp độ dưới lại “đồng dạng” với phần ở cấp độ trên và với toàn thể, những hình kỳ lạ, điểm mà không là điểm, đường mà không là đường, mặt mà không là mặt,.. “
    Có điều ở đây là: mặc dù hàm đệ quy rất đơn giản nhưng lại cho ra những hình vẽ rất kỳ lạ, đẹp mắt đến kỳ ảo! (bạn đọc có thể dùng Google search Fractal để tìm vô số các hình ảnh đó.
    Vấn đề ứng dụng của Fractal trong cuộc sống, bởi tính chất sao lặp được áp dụng triệt để trong việc tạo ra một hệ thống phức tạp vì vậy chúng ta cũng áp dụng cách sao lặp để làm đơn giản một hệ thống. Chẳng hạn, với công việc điều hành một Chính phủ rõ ràng là hết sức phức tạp, nhưng người ta đã chia Chính phủ ra làm các Bộ, trong Bộ lại chia ra các Cục, Vụ, Viện,.. Phòng, Ban rồi đến từng người, mỗi bộ phận có trách nhiệm, quyền hạn nhất định. Một hệ thống tốt, tối ưu là các bộ phận được phân định rõ ràng về chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ, phù hợp với điều kiện hoàn cảnh và đảm bảo cho toàn hệ thống chạy trơn tru. Cây Chính phủ sẽ hoạt động trơn tru nếu cả hệ thống vận hành nhịp nhàng, không rối, không chậm, đảm bảo hiệu quả. Sự hoạt động nhịp nhàng không thể thiếu hệ thống thông tin, các luồng thông tin, thần kinh trao đổi trên dưới, dọc ngang giữa các phần tử của hệ thống. Ở đây, lại cho chúng ta một hình ảnh về sự trao đổi chất trong một cái cây tự nhiên. Chúng ta phải học cách tổ chức của cái cây trong tự nhiên để hệ thống của Chính phủ không bị rối, và hoạt động hướng tới sự tối ưu, tự hoàn thiện. Phần mềm tin học nếu được tổ chức dạng Cây với tính đệ quy Fractal sẽ giúp chúng ta thực hiện được điều đó: chuyển hệ thống phức tạp thành những hệ thống con, đơn giản hơn.
    Một ví dụ khác về hệ thống quản lý dân số. Nước ta có khoảng 86 triệu người, cơ sở dữ liệu của 86 triệu là rất lớn, nếu tập trung dữ liệu cả nước để nhập vào máy tính sẽ là công việc khổng lồ. Tuy nhiên, nếu chia hệ thống dân số ra thành 63 tỉnh, thành phố, mỗi tỉnh, thành lại chia ra quân huyện (khoảng 650 quận, huyện), mỗi quận huyện là 1 trung tâm nhập liệu để thu thập số liệu của gần 11.000 xã, phường thì quy mô của hệ thống sẽ nhỏ đi rất nhanh. Từ 86 triệu sẽ chỉ còn 10.000-100.000 người tại xã, phường. Khi đó, hệ thống quản lý dân số vẫn là một hệ thống chung nhưng sẽ bao gồm các hệ thống con (650 hoặc 11.000) vẫn hoạt động một cách nhịp nhàng, trơn tru.
    Tóm lại, Fractal phải chăng là một sự gợi ý của Thiên nhiên, của Tạo Hoá mà chúng ta có thể vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo trong đời sống để Fractal trở thành sự kỳ bí ngọt ngào nhất./.
    —————————————–
    (Người được coi đã khai sinh thuật ngữ hình họa Fractal 30 năm trước là nhà toán học Benoit Mandelbrrot. Tuy nhiên, hãy nghiên cứu một cách đơn giản nhất đối với hình họa phức tạp này thông qua phần mềm Fractal Explorer của nhóm tác giả do hai người Ukraine chủ xướng là Sirotinsky Athur và Olga Fedorenko. Chương trình có dung lượng nén 1,46 MB. Tương thích từ Windows 98 trở lên. Tải miễn phí từ địa chỉ http://www.eclectasy.com/Fractal-Explorer/index.html.

    Giải nén và bấm vào file fe.exe để sử dụng ngay mà không cần cài đặt. Giao diện thân thiện, cung cấp cho chúng ta 148 hình Fractal mẫu, từ đó thông qua chương trình chúng ta có thể tha hồ tùy biến theo ý thích).

  6. Huy Minh says:

    Hơn 20 năm qua, GS Phan Đình Diệu quan tâm nghiên cứu “khoa học về cái phức tạp, nhiều lần ông đã trình bày những kết quả n/cứu của mình tại IDS, dưới đây xin được mọi người phát biểu của tôi trong một buổi toạ đàm ngày 24/4/2009:

    Trước hết tôi xin được cám ơn GS Phan Đình Diệu và Viện IDS đã tổ chức buổi toạ đàm với chủ đề hết sức lý thú này. Phát biểu của tôi gồm 5 ý như sau:
    – Thứ nhất: Phức tạp là một khái niệm tương đối, bởi có nhiều góc nhìn khác nhau về cùng một bài toán, một vấn đề. Đối với người này là khó, người khác lại dễ; tại thời điểm trước dễ, thời điểm sau lại khó hoặc ngược lại, ở khu vực này khó, chỗ khác lại dễ,… Việc sử dụng các giải pháp, công cụ phương tiện thích hợp hoặc ứng dụng công nghệ hiện đại cũng giúp cho người ta có thể giải quyết bài toán dễ dàng hơn. Với những vấn đề đặc biệt phức tạp, phải biết cách huy động sức mạnh trí tuệ của cả quốc gia, dân tộc.
    – Thứ hai: Hệ thống phức tạp thường có phạm vi rộng lớn, khó nắm bắt, tác động đa chiều ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực, đối tượng khác nhau. Một nguyên tắc được áp dụng một cách tự nhiên đó là: phân chia hệ thống lớn, phức tạp thành những hệ thống nhỏ, đơn giản hơn để giảm đi quy mô và độ phức tạp nhưng vẫn không làm mất đi bản chất của cả hệ thống. Trong thực tiễn, trước một vấn đề lớn, chính quyền cần phải biết dựa vào và phát huy sức mạnh sáng tạo của cộng đồng, của cả dân tộc “Dễ trăm lần không dân cũng chịu; Khó vạn lần dân liệu cũng xong”.
    – Thứ ba: Muốn làm chủ được hệ thống phức tạp cần phải đi sâu vào bên trong, nắm được cái linh hồn của nó, nắm được cái mà ở đó các nhà khoa học gọi là Bản chất, quy luật vận động; Triết phật gọi là Tự tính; tôn giáo khác gọi chung là linh hồn của hệ thống… Bên trong những biểu hiện hỗn loạn, đầy bất trắc của bất cứ hệ thống phức tạp nào cũng đều ẩn chứa những nhân tố cốt lõi, đặc trưng, linh hoạt, uyển chuyển, chi phối bản chất của hệ thống.
    Khi hoạt động, các hệ thống đều để lại thông tin, dấu vết thông qua những tác động đến: môi trường, không, thời gian mà con người có thể nhận biết được. Từng cấu thành, bộ phận, nhân tố của hệ thống phức tạp cũng đều để lại vết tích nhất định, “phần xác qua đi, phần hồn ở lại” khi hoạt động. Chính thông tin – “phần hồn” này sẽ giúp chúng ta dựng lại được hình ảnh toàn thể cũng như mô phỏng hoạt động của những hệ thống phức tạp nhằm mục đích điều khiển, tác động, hướng các hệ thống đó vào những mục tiêu nhất định.
    Tuy nhiên, trong thực tế, khối lượng thông tin, dữ liệu đó thường rất lớn, đa dạng, phức tạp, không thể nắm bắt, ghi chép được bằng phương pháp thủ công truyền thống. Chính điều đó cần đến CNTT và các nhà lập trình để xây dựng cần các phần mềm quản lý ghi lại dấu vết, thông tin, dữ liệu hệ thống một cách khoa học, có cấu trúc hợp lý, dễ dàng cho việc khai thác sử dụng.
    – Thứ tư: Fractal là một trong những phương pháp hữu hiệu, đơn giản nhất để thực hiện việc chia bài toán lớn thành những bài toán nhỏ hơn, đồng dạng, dễ giải hơn để nhằm mục đích giải toàn bộ bài toán lớn. Trong toán học, đặc biệt là trong khoa học máy tính, các hàm đệ quy – hàm gọi đến chính nó thường xuyên được sử dụng. Một ví dụ kinh điển về cây Fractal là một đoạn chương trình cho phép vẽ một cái cây (gốc, cành, lá, hoa quả,…) rất sinh động và dễ hiểu. Độ phức tạp của 1 hệ thống giảm đi một cách bất ngờ chỉ sau 2-3 lần áp dụng “thuật Fractal”. (VD: dân số, quản lý TBTT, giáo dục, quản lý hộ nghèo,…).
    – Thứ năm: CNTT biến cái phức tạp thành cái đơn giản
    Mô hình cây phân cấp được sử dụng phổ biến trong tự nhiên, xã hội cũng như khoa học máy tính. Điều này cũng là sự tương đồng kỳ diệu giữa thiên nhiên và con người. Hình ảnh cây cối trong tự nhiên là mô hình rất tường minh, hợp lý đến hoàn hảo cho con người học tập, noi theo. Có thể vì vậy mà các mô hình tổ chức quản lý trong xã hội cũng thường được tổ chức dạng Cây phân cấp (Cha -> Con; Trên -> Dưới, Lớn -> Bé). Trong cuốn “Vật tổ và Cấm kị” (Totem và Taboo, 1912-1913) Nhà Phân tâm học nổi tiếng Sigmund Freud (Áo) đã phát biểu: “Mọi quan hệ đều là Cha – Con”, ngoài ra, tôi còn nhận thấy rằng: “Mọi phần tử trong hệ thống đều được xác định nếu xác định được Cha của chúng”!
    Và, chính nhờ có sự chỉ dẫn, gợi ý của “thiên nhiên”, của triết học, của văn hoá Phương Đông và của công nghệ sinh học, của khoa học kỹ thuật hiện đại (CNTT) ngày nay mà chúng tôi đã lựa chọn công nghệ và triển khai tổ chức một hệ thống thông tin dữ liệu tuân thủ một cách triệt để nhất mô hình Cây đệ quy – Fractal trong việc phát triển “Phần mềm tổ chức, quản lý Cây thông tin dữ liệu” cũng là để khắc phục cái “quá mảnh dẻ, còi cọc” của cây thư mục Windows Explore của Microsoft.

    Kết luận: Muốn làm chủ một hệ thống phức tạp, chúng ta cần phải nắm được phần cốt lõi bên trong – “phần hồn” của nó một cách nhanh nhất, đầy đủ, kịp thời nhất có thể được. Do đó, cần phải có công cụ, phương tiện và tổ chức nhân lực để ghi lại toàn bộ những thông tin, số liệu, dấu vết về hoạt động của các cấu thành của hệ thống phức tạp. Sự can thiệp, điều khiển hệ thống phức tạp sẽ thông qua việc điều chỉnh, sửa đổi, tái cấu trúc, cắt giảm hay tăng cường nguồn lực cho những cấu thành bên trong hệ thống. Điều quan trọng nhất là phải luôn đảm bảo tính toàn vẹn, thống nhất của cả hệ thống; nhắm hệ thống phục vụ lợi ích của cộng đồng, lợi ích quốc gia, dân tộc./.
    HuyMinh.

    • HOA HỒNG _ SG says:

      Thật tiếc là GS Phan Đình Diệu sinh ra và lớn lên ỡ VN. Nếu GS sinh ra ỡ Mỹ thì thế giới đã có thêm một Steve Jobs thứ hai .

  7. […] Bạn đọc viết. You can follow any responses to this entry through the RSS 2.0 feed. You can leave a response, or trackback from your own […]

  8. KTS Trần Thanh Vân says:

    Chính bởi do Tổng Cua post Entry này lên quá sớm, nên có lẽ nhờ thế mà tôi trở thành người đầu tiên đọc được những bài thơ của Gs Diệu hay như thế này và ký ức của ông về trường cấp III Phan Đình Phùng ở Đức Thọ Hà Tĩnh
    Vậy xin giới thiệu thêm một chút về ngôi trường nổi tiếng này: Trường Phan Đình Phùng nguyên được dựng ở Làng Tùng Ảnh xã Châu Phong, huyện Đức Thọ tỉnh Hà Tĩnh, là cái nôi sinh ra những người theo thực dân Pháp, chống thực dân Pháp và chửi thực dân Pháp nổi tiếng nhất nước ta:
    Đầu tiên phải kể đến là cụ Phan Đình Phùng khởi nghĩa chống Pháp,
    Tiếp ngay sau đó lại xuất hiện cha con Hoàng Cao Khải và Hoàng Trọng Phu ôm chân người Pháp, ông bố từng được vua Khải Định phong chức Khâm sai Bắc phần, còn ông con cũng leo tới chức Tổng đốc tỉnh Hà Đông.
    Tiếp nữa trong ngôi làng này cũng có ông Trần Phú ở cuối làng làm chức Tổng bí thư đầu tiên của Đảng CSĐD.
    Người nổi tiếng cuối cùng ở chính giữa làng là nhà thơ Phan Điện, cụ ngoại của tôi, cụ không theo Pháp cũng chẳng làm cách mạng, Năm 1930, cụ đưa hai người con Phan Anh Phan Mỹ và một lũ cháu ra Hà Nội theo học trường Tây, còn cụ chỉ đi dậy học và làm thơ chửi Tây và chửi mọi thói hư tật xấu ở đời. ………
    Tôi có một ông Bác ( anh của mẹ ) dậy trường Phan Đình Phùng, thầy giáo Phan Tử Long và một bà dì từng là người đẹp nổi tiếng trong đám nữ sinh của trường : Phan thị Bảo Thái…. những người hùng của năm 1953, 1954

    • Zin says:

      He He! Còn có Phan Thế Hải ( Lò văn Zin ) nữa

    • Tantruonghung says:

      Làng Tùng Ảnh nói riêng và huyện Đức Thọ nói chung có rất nhiều người nổi tiếng trong và ngoài nước trên nhiều lĩnh vực.
      Tôi nghĩ từ ôm chân nên cho trong ngoặc kép hoặc dùng từ khác, kẻo không các nhà nghiên cứu sử học lại bảo có thấy nói hai cha con ông này ôm chân toàn quyền, công sứ, thống sứ …nào đâu(!).
      Cách dùng từ này là của giữa thế kỷ trước.
      Hòa hợp, hòa giải dân làng còn chưa được thì làm sao hòa hợp, hòa giải dân tộc được.
      Nếu có gì chưa thuận tai, xin bạn đọc thông cảm.

      • D.Nhật Lê says:

        Bác có lẽ không cần phải ‘lấn cấn’ về… ôm chân thời xưa nhưng ngày
        nay thì cần lắm,ngay ông ĐM.còn lên án Đoàn Duy Thành là cựu phó
        thủ tướng…ôm chân cố thủ tướng Võ Văn Kiệt ! Chắc họ ‘gay’ chăng ?

    • chan says:

      Bác KCS Trần Thanh Vân ơi , có phải cụ Lê Đức Thọ cũng quê ở
      Đức Thọ phải ko thưa bác.

    • Le Lan Phuong says:

      Chào bác Tổng Cua và bác Trần Thanh Vân,

      Em vẫn hay vào đọc “chùa” blog Hieuminh của bác do em có người bạn học là Mai Thanh làm ở WB HN giới thiệu. Em cũng biết bài viết của bác Cua do em Giang Thu Hồng Ngọc mách bảo (chẳng biết có họ gì với bác Cua không? ;))

      Nhân đọc bài này về GS Diệu và qua cmt của bác Vân em nhận ra chắc bác Vân có họ hàng với nhà em. Không biết có phải bác Vân nhắc đến thầy giáo Phan Tử Long trước dạy Phan Đình Phùng, sau dạy ở Lam Sơn Thanh Hoá không ạ? Nếu đúng thì đó là cậu ruột của em. Bà ngoại em có cậu Dục là anh cả, mất từ hồi 1950x, rồi đến cậu Long, 1 cậu nữa mất từ nhỏ, dì Tuyên và đến mẹ em tên là Lan ạ. Ngày bé có lần em cũng được mẹ em đưa đến họp họ ở nhà ông Phan Anh chỗ 16 Tông Đản. Thêm nữa, nhà bà ngoại em ở ngay bên cạnh nhà tưởng niệm Trần Phú ở làng Tùng Ảnh ạ.

      Cảm ơn bác Tổng Cua vì nhờ blog của bác em được biết đến bác Vân ạ.

      • Triêu Dương says:

        Ở Viện Toán học (GS Hoàng Tụy), có anh Phan Thiên Thạch là con trai út của ông Phan Anh, cháu nội cụ Phan Điền, cũng lấy luôn con gái duy nhất của thủ trưởng là chị Hoàng Hồng Hà, ở số nhà 16 Tông Đản mà bạn đề cập. Chị HH.Hà cũng là thành viên của viện IoIT, cùng phòng luôn với anh Hiệu Minh và anh Vũ Duy Mẫn nổi tiếng.
        Tôi được nghe bố tôi kể về hành vi khảng khái chống Pháp và tay sai của hoặc ông Phan Anh, hoặc cụ Phan Điền (lâu rồi không nhớ là ông bố hay ông con), là tới trước dinh thự (lăng) Hoàng Cao Khải, đối diện trường ĐH Thủy Lợi, tụt quần cởi truồng chổng mông phản đối tay sai Pháp bán nước hại dân. Các cụ chí sỹ ngày xưa khiếp lắm, hành động khảng khái rõ ràng. Bây giờ chí sỹ vẫn chỉ dám nó bóng gió để cho người khôn suy đoán sau câu chữ ẩn ý của mình. Chả biết vì thời thế nó thế, hay là vì bây giờ ít người “liều mình vì nước” hơn ngày trước.
        Thân mến, Dương.

  9. Hà Linh says:

    HÌnh ảnh bữa tiệc ” khế chua chấm vôi” thật cảm động và đầy ý nghĩa.
    Cảm ơn anh Cua cho đăng các tác phẩm với cách viết giản dị, súc tích -với những trở trăn của Giáo Sư Phan Đình Diệu.
    Chúc anh Cua và bạn đọc Cua Times một tuần mới mạnh khỏe và mọi sự hanh thông!

    • Đề nghị “phần tử” HL giải thích…hành động ”khế chua chấm vôi” cho bà con hiểu nhé!
      Hình như chỉ có vụ “khế chua chấm …muối ớt” thôi chứ, Tại sao lại chấm …vôi nhễ?

      • Hà Linh says:

        Em đoán vì có lẽ có cái gì đó liên quan đến phản ứng hóa học ( hihihi em dốt Hóa nhưng nói đại- sorry anh HTH trước) có lẽ ăn khế với vôi thì đỡ chua hơn hay sao?
        Một “bữa tiệc” quá nghèo nàn về vật chất nhưng thật giàu có về tình thầy trò-về cách ứng xử đầy nhân văn của người thầy.

%d bloggers like this: